Tổng quan nghiên cứu

Khu rừng đặc dụng Côpia tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có tổng diện tích quy hoạch khoảng 19.000 ha, đóng vai trò là hành lang sinh thái lưu giữ nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, áp lực sinh kế từ cộng đồng vùng đệm như xã Chiềng Bôm với diện tích tự nhiên 9.218,40 ha, quy mô dân số 5.315 người thuộc 4 dân tộc thiểu số đang tạo nên sức ép gay gắt đối với tài nguyên rừng. Thực trạng canh tác nương rẫy lạc hậu đã dẫn đến việc 48,34% diện tích đất tự nhiên của xã chưa được sử dụng hiệu quả, trong đó có tới 3.445,26 ha đất đồi núi bị thoái hóa, bạc màu nghiêm trọng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 2,2% mỗi năm cùng tập quán du canh du cư lịch sử khiến 3.213,53 ha rừng tự nhiên tại địa bàn thường xuyên đứng trước nguy cơ bị xâm lấn, chặt phá và cháy rừng.

Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng đa dạng sinh thái, kiểm kê hệ động thực vật, phân tích thực trạng công tác quản lý của Ban quản lý rừng đặc dụng Côpia và khảo sát mức độ phụ thuộc sinh kế của 1.009 hộ dân bản địa. Đề tài được thực hiện trên địa bàn xã Chiềng Bôm trong khoảng thời gian từ tháng 02/2011 đến tháng 08/2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống giải pháp đồng quản lý tài nguyên nhằm bảo tồn 609 loài thực vật bậc cao và 307 loài động vật hoang dã, đồng thời hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp, hướng tới mục tiêu tăng thu nhập bình quân của người dân từ 4,5 triệu đồng/người/năm lên mức ổn định hơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết địa lý sinh học đảo để luận giải mối tương quan giữa quy mô không gian 19.000 ha của khu bảo tồn Côpia với sức chứa và độ đa dạng sinh học của các quần thể loài. Bên cạnh đó, lý thuyết quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và mô hình đồng quản lý rừng của Gordon Conway kết hợp Robert Chambers được sử dụng làm nền tảng phân tích thể chế quản trị rừng.

Khung lý thuyết tập trung vào các khái niệm trọng tâm bao gồm: đa dạng sinh học, khu bảo tồn rừng đặc dụng, sinh kế bền vững vùng đệm và sự tham gia của cộng đồng bản địa. Việc phân tích được đặt trong bối cảnh cấu trúc xã hội địa phương với 4 nhóm dân tộc sinh sống xen kẽ, trong đó dân tộc Thái chiếm 59,15%, dân tộc Kháng chiếm 34,26%, dân tộc H'mông chiếm 5,14% và dân tộc Khơ Mú chiếm 1,45% dân số toàn xã. Mô hình tiếp cận khẳng định rằng sự hòa hợp quyền lợi giữa người dân địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn suy thoái tài nguyên thiên nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai thực địa liên tục từ tháng 02/2011 đến tháng 08/2011 tại xã Chiềng Bôm. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô khảo sát 150 hộ gia đình tại 5 bản trọng điểm vùng đệm, mỗi bản lựa chọn 30 hộ đại diện cho các nhóm thu nhập và dân tộc khác nhau. Đồng thời, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu toàn diện 10 cán bộ trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Côpia và cán bộ lãnh đạo nông lâm nghiệp cấp xã.

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn kết hợp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân được lựa chọn nhờ khả năng tương tác linh hoạt, giúp xóa bỏ rào cản ngôn ngữ và phát huy tối đa tri thức bản địa vùng cao. Các công cụ thực địa chính bao gồm sơ đồ lát cắt thôn bản, biểu đồ lịch sử làng, bảng câu hỏi bán định hướng và ma trận phân loại xếp hạng cây trồng vật nuôi theo thang điểm 10. Dữ liệu thứ cấp về kiểm kê rừng năm 2009 được tổng hợp, mã hóa và xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và so sánh mẫu định lượng trên máy tính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu hệ thực vật Côpia sở hữu độ phong phú cao với 609 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 406 chi, 149 họ thuộc 5 ngành thực vật. Trong đó, 10 họ giàu nhất quy tụ 185 loài, chiếm 30,3% tổng số loài và 110 chi, chiếm 26,5% tổng số chi toàn khu vực. Khu hệ ghi nhận 20 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007, tương đương 3,3% tổng số loài, bao gồm 5 loài cấp Nguy cấp như Pơ mu, Sến mật, Kim tuyến và 15 loài cấp Sẽ nguy cấp như Đẳng sâm, Lát hoa, Hà thủ ô đỏ.

Thứ hai, khu hệ động vật rừng ghi nhận 307 loài thuộc 90 họ và 25 bộ sinh vật. Cấu trúc thành phần phân bố gồm lớp Chim chiếm 60% với 184 loài, lớp Thú chiếm 21% với 65 loài, lớp Bò sát chiếm 12% với 36 loài và lớp Ếch nhái chiếm 7% với 22 loài. Đáng chú ý, có tới 55 loài động vật quý hiếm, chiếm tỷ trọng 17,92% tổng số loài, bao gồm 11 loài thuộc nhóm IB và 28 loài thuộc nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, cùng các loài cực kỳ nguy cấp như Niệc cổ hung, Trăn đất và Báo hoa mai.

Thứ ba, sự phụ thuộc sinh kế của người dân vào tài nguyên rừng là rất lớn khi toàn xã Chiềng Bôm có 4.456,44 ha đất chưa sử dụng, chiếm 48,34% diện tích tự nhiên, trong đó 3.445,26 ha là đồi núi trọc thoái hóa. Thu nhập bình quân từ trồng trọt chỉ đạt 4,5 triệu đồng/người/năm trên diện tích đất ngắn ngày bình quân 0,21 ha/người.

Thứ tư, nguồn lực quản lý trực tiếp quá mỏng khi Ban quản lý rừng đặc dụng Côpia chỉ gồm 10 nhân sự chịu trách nhiệm tuần tra 19.000 ha địa hình chia cắt mạnh với độ dốc phổ biến 25 đến 35 độ.

Thảo luận kết quả

Theo tiêu chuẩn phân loại của Tolmachop năm 1974, một khu hệ thực vật có 10 họ giàu nhất chiếm tỷ lệ dưới 50% tổng số loài được xem là có độ đa dạng loài rất cao. Tỷ lệ 30,3% tại Côpia phản ánh cấu trúc rừng nguyên sinh nhiệt đới và á nhiệt đới phong phú. Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận tại tỉnh Sơn La như Tà Xùa có 613 loài thực vật và Xuân Nha có 1.074 loài thực vật, số lượng loài tại Côpia thấp hơn chủ yếu do diện tích tự nhiên nhỏ hơn và lịch sử canh tác nương rẫy kéo dài.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, hiện trạng sinh thái và kinh tế lâm nghiệp có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ động vật quý hiếm giữa các khu bảo tồn Sơn La (Côpia chiếm 17,92%, Tà Xùa chiếm 16,92% và Sốp Cộp chiếm 21,18%) cùng bảng ma trận đối chiếu hiệu quả sinh thái của các mô hình nông lâm kết hợp. Nguyên nhân suy thoái rừng tại địa phương xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh kế của 1.009 hộ dân và mục tiêu bảo tồn nguyên vẹn. Phát hiện này hoàn toàn tương thích với các báo cáo của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên năm 2001 và nghiên cứu của Nguyễn Bá Thụ năm 1997, nhấn mạnh rằng nếu không giải quyết được an ninh lương thực cho vùng đệm thì rừng đặc dụng vẫn tiếp tục bị suy thoái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện quy hoạch và giao đất khoán rừng ổn định: Ủy ban nhân dân huyện Thuận Châu phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La tiến hành rà soát, đo đạc và giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp trong giai đoạn 2011 - 2015. Mục tiêu hướng tới là phục hồi và chuyển đổi 3.445,26 ha đất đồi núi trọc sang đất lâm nghiệp có chủ quản lý thực sự, đảm bảo 100% diện tích rừng tại 30 bản đều có chủ thể chịu trách nhiệm bảo vệ rõ ràng.

Xây dựng và nhân rộng mô hình nông lâm kết hợp trên đất dốc: Ban quản lý rừng đặc dụng Côpia phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Thuận Châu và các hộ nông dân triển khai mô hình trồng xen cây lâm nghiệp bản địa (Lát hoa, Giổi, Re) với cây ăn quả (Xoài, Mận đạt năng suất 11 tấn/ha/năm) và cây công nghiệp (Cà phê đạt năng suất 10,5 tấn/ha/năm) trên quy mô 150 ha đất nương rẫy trong giai đoạn 2011 - 2020. Giải pháp này giúp nâng thu nhập bình quân từ 4,5 triệu đồng lên trên 9 triệu đồng/người/năm, đồng thời giảm 70% nguy cơ xói mòn tầng đất mặt.

Thành lập các tổ quần chúng tự quản bảo vệ rừng thôn bản: Ủy ban nhân dân xã Chiềng Bôm chủ trì thành lập 30 tổ tự quản tại 30 bản làng từ quý 1/2012. Tổ tự quản có trách nhiệm phối hợp với 10 cán bộ Ban quản lý rừng thực hiện tuần tra ranh giới, giám sát phòng cháy chữa cháy rừng, gắn quyền lợi nhận tiền khoán bảo vệ rừng đến 1.009 hộ dân, cam kết giảm 85% số vụ xâm lấn và săn bắt trái phép.

Tổ chức các khóa tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ thuật canh tác: Ban quản lý rừng Côpia phối hợp với các tổ chức phát triển nông thôn tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo mỗi năm trong giai đoạn 2012 - 2015. Chỉ tiêu đặt ra là nâng cao hiểu biết pháp luật lâm nghiệp và kỹ thuật thâm canh bền vững cho trên 90% lực lượng trong độ tuổi lao động, tương đương 3.758 người tại xã Chiềng Bôm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn và phương pháp tiếp cận đồng quản lý rừng trên diện tích 19.000 ha, hỗ trợ xây dựng cơ chế phân cấp và tối ưu hóa hiệu suất làm việc cho đội ngũ nhân sự quản lý lâm nghiệp cơ sở gồm 10 cán bộ chuyên trách.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà khoa học lâm nghiệp: Luận văn là nguồn tham khảo phương pháp kết hợp công cụ đánh giá nông thôn nhanh với đánh giá có sự tham gia của người dân trong nghiên cứu 609 loài thực vật và 307 loài động vật, đóng vai trò là một điển cứu mẫu mực về lâm nghiệp xã hội và bảo tồn sinh học vùng Tây Bắc.

Chính quyền địa phương và cán bộ khuyến nông cấp huyện, xã: Nghiên cứu cung cấp tài liệu hướng dẫn chuyển đổi 3.445,26 ha đất đồi núi thoái hóa thành các mô hình canh tác nông lâm kết hợp hiệu quả, hỗ trợ hoạch định chính sách an sinh và xóa đói giảm nghèo cho 1.009 hộ dân thuộc 4 nhóm dân tộc bản địa.

Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ phát triển bền vững: Báo cáo cung cấp bộ chỉ số kinh tế xã hội và thực trạng sinh kế của 5.315 nhân khẩu vùng đệm, phục vụ công tác thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn thiên nhiên gắn liền với nâng cao thu nhập cộng đồng miền núi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao công tác bảo tồn tại khu rừng đặc dụng Côpia bắt buộc phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương? Khu bảo tồn Côpia có diện tích lên tới 19.000 ha nhưng Ban quản lý chỉ có 10 cán bộ phụ trách. Trong khi đó, xã Chiềng Bôm có 5.315 nhân khẩu sinh sống sát ranh giới rừng. Thiếu sự đồng thuận và giám sát của người dân, lực lượng kiểm lâm không thể kiểm soát hết 3.213,53 ha rừng trước nguy cơ đốt nương làm rẫy.

Khu hệ sinh vật tại rừng đặc dụng Côpia có những giá trị đa dạng sinh học nổi bật nào? Côpia là nơi cư trú của 609 loài thực vật có mạch và 307 loài động vật rừng. Toàn khu vực ghi nhận 20 loài thực vật và 55 loài động vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007, tiêu biểu như Pơ mu, Sến mật, Vượn đen, Gấu ngựa và Báo hoa mai.

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân mang lại ưu thế gì trong nghiên cứu lâm nghiệp? Phương pháp tiếp cận trực tiếp 150 hộ gia đình tại 5 bản làng qua sơ đồ lát cắt và ma trận điểm số 10 giúp vượt qua rào cản bất đồng ngôn ngữ của 4 dân tộc thiểu số, thu thập trung thực số liệu sinh kế và khơi dậy ý thức tự giác bảo vệ rừng của người dân.

Thực trạng sử dụng đất tại xã Chiềng Bôm tạo ra thách thức gì đối với bảo tồn đa dạng sinh học? Xã có 4.456,44 ha đất chưa sử dụng, chiếm 48,34% diện tích tự nhiên, gồm 3.445,26 ha đồi núi thoái hóa. Thu nhập bình quân từ trồng trọt chỉ đạt 4,5 triệu đồng/người/năm khiến người dân tiếp tục phá rừng làm nương rẫy để duy trì lương thực.

Mô hình sinh kế nào đạt hiệu quả cao nhất trong việc giảm thiểu áp lực xâm hại rừng đặc dụng? Mô hình nông lâm kết hợp trồng xen cây lâm nghiệp bản địa với cây ăn quả đạt năng suất 11 tấn/ha/năm và Cà phê đạt năng suất 10,5 tấn/ha/năm được chứng minh là tối ưu, giúp tăng thu nhập hộ gia đình lên gấp 2 lần và bảo vệ tầng đất mặt.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định hệ sinh thái Côpia sở hữu giá trị đa dạng sinh học đặc sắc với 609 loài thực vật và 307 loài động vật, lưu giữ 75 loài nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007.

Nguyên nhân cốt lõi gây suy giảm tài nguyên rừng bắt nguồn từ áp lực sinh kế của 1.009 hộ dân trên 4.456,44 ha đất chưa sử dụng và thoái hóa.

Đề tài chứng minh tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức quản lý hành chính đơn thuần sang mô hình đồng quản lý rừng có sự tham gia của 4 nhóm dân tộc bản địa.

Quy hoạch phục hồi 3.445,26 ha đất đồi núi trọc kết hợp triển khai các mô hình nông lâm kết hợp đa tầng tán là chìa khóa giải quyết hài hòa mâu thuẫn bảo tồn và phát triển.

Xây dựng 30 tổ tự quản thôn bản giúp củng cố mạng lưới giám sát bảo vệ rừng vững chắc, hỗ trợ trực tiếp cho 10 cán bộ chuyên trách của Ban quản lý.

Đóng góp chính của luận văn thạc sĩ năm 2011 do tác giả Đinh Văn Thái thực hiện là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng và đề xuất khung giải pháp quản trị rừng dựa vào cộng đồng có tính khả thi cao tại vùng Tây Bắc.

Kế hoạch hành động trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung hoàn thiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và chuyển giao quy trình kỹ thuật nông lâm kết hợp đến từng thôn bản trong giai đoạn 2012 - 2020.

Các nhà quản lý lâm nghiệp, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội hãy chủ động áp dụng các giải pháp đồng quản lý và hỗ trợ nguồn lực sinh kế cho người dân Chiềng Bôm ngay hôm nay nhằm bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá tại khu rừng đặc dụng Côpia.