Đặc điểm lâm sàng và giá trị của Gene Xpert MTB/RIF trong chẩn đoán lao phổi AFB ở người nhiễm HIV

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của kỹ thuật GeneXpert MTB/RIF trong chẩn đoán lao phổi AFB ở người nhiễm HIV.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Lao

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Bệnh lao, phát hiện bệnh lao trên thế giới

1.2. Bệnh lao, lao đồng nhiễm HIV

1.3. Lao phổi AFB (-)

1.4. Bệnh lao tại Việt Nam

1.4.1. Đặc điểm chung bệnh lao tại Việt Nam

1.4.2. Nhiễm HIV/AIDS và bệnh lao tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Chọn mẫu cho nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu, các kỹ thuật thực hiện, đánh giá kết quả

2.5. Thông tin dịch tễ học

2.6. Thông tin triệu chứng lâm sàng

2.7. Các kỹ thuật xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu

2.8. Quy trình kỹ thuật Xpert MTB tại phòng xét nghiệm

2.9. Nội dung thông tin thu thập cho nghiên cứu

2.10. Phương pháp phân tích xử lý số liệu

2.11. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Số lượng bệnh nhân thu nhận tại các cơ sở nghiên cứu theo năm

3.2. Một số đặc điểm dịch tễ, yếu tố nguy cơ, điều trị dự phòng ở bệnh nhân lao phổi AFB (-) nhiễm HIV

3.2.1. Đặc điểm tuổi

3.2.2. Trình độ học vấn, nghề nghiệp và đường lây nhiễm HIV

3.2.3. Thời gian nhiễm HIV và các yếu tố ảnh hưởng

3.3. Đặc điểm lâm sàng

3.3.1. Triệu chứng toàn thân tại thời điểm nhập viện

3.3.2. Đặc điểm triệu chứng cơ năng

3.3.3. Triệu chứng thực thể

3.4. Xét nghiệm cận lâm sàng

3.4.1. Chỉ số sinh hóa máu

3.4.2. Công thức máu ngoại vi

3.4.3. Tế bào lympho T-CD4 ngoại vi tại thời điểm

3.4.4. Số lượng, phân loại tế bào lympho T-CD4 tại thời điểm chẩn đoán lao

3.4.5. Phân loại tế bào lympho T-CD4 và kết quả Xpert MTB

3.4.6. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan và MGIT(+)

3.4.7. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan và Xpert MTB(+)

3.4.8. Đặc điểm Xquang phổi

3.4.9. Giá trị chẩn đoán triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

3.4.10. Triệu chứng nghi lao và kết quả MGIT

3.4.11. Triệu chứng nghi lao và kết quả Xpert MTB

3.4.12. Triệu chứng nghi lao và phương pháp lấy đờm

3.4.13. Giá trị của một số triệu chứng lâm sàng toàn thân, cơ năng

3.4.14. Giá trị tổ hợp một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

3.4.15. Phương pháp lấy đờm tác động và khả năng tìm thấy vi khuẩn

3.4.16. Phương pháp lấy đờm và kết quả Xpert MTB

3.4.17. Phương pháp lấy đờm và kết quả MGIT

3.4.18. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan và lấy đờm tác động Xpert/MTB(+)

3.4.19. Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan và lấy đờm tác động MGIT(+)

3.4.20. Tác dụng không mong muốn trong khi lấy đờm tác động

3.4.21. Giá trị xét nghiệm Xpert MTB/RIF

3.4.22. Kết quả Xpert trong chẩn đoán lao phổi so với nuôi cấy MGIT

3.4.23. Kết quả nhạy cảm thuốc trên môi trường đặc, giá trị phát hiện kháng RMP của Xpert MTB

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm dịch tễ, yếu tố nguy cơ, điều trị dự phòng

4.2. Tỷ lệ bệnh nhân thu nhận vào nghiên cứu

4.3. Đặc điểm giới tính

4.4. Tuổi trung bình và phân nhóm tuổi

4.5. Trình độ học vấn, nghề nghiệp, đường lây nhiễm HIV

4.6. Thời gian nhiễm HIV, các yếu tố liên quan tới bệnh lao

4.7. Đặc điểm lâm sàng

4.7.1. Triệu chứng toàn thân

4.7.2. Triệu chứng cơ năng

4.7.3. Triệu chứng thực thể

4.8. Đặc điểm cận lâm sàng

4.8.1. Chỉ số sinh hóa máu

4.8.2. Công thức máu ngoại vi

4.8.3. Số lượng và sự thay đổi tế bào lympho T-CD4 máu ngoại vi

4.8.4. Lympho T-CD4 và kết quả MGIT, Xpert MTB

4.8.5. Phân tích hồi quy đơn biến một số yếu tố với kết quả MGIT (+)

4.8.6. Phân tích hồi quy đơn biến một số yếu tố với kết quả Xpert MTB(+)

4.8.7. Đặc điểm Xquang phổi và một số yếu tố

4.8.8. Giá trị chẩn đoán triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

4.8.9. Triệu chứng nghi lao và kết quả MGIT, Xpert MTB, khả năng lấy đờm

4.8.10. Độ nhạy, đặc hiệu của một số triệu chứng

4.8.11. Phương pháp lấy đờm tác động

4.8.12. Lấy đờm tác động và kết quả Xpert/MTB, MGIT

4.8.13. Phân tích hồi quy đơn biến và kết quả đờm tác động Xpert MTB(+), MGIT(+)

4.8.14. Tác dụng không mong muốn trong khi lấy đờm tác động

4.8.15. Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF

4.8.16. Kết quả MGIT, độ nhạy, đặc hiệu của Xpert MTB

4.8.17. Tỷ lệ kháng thuốc lao hàng 1 và giá trị Xpert MTB phát hiện kháng RMP

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giá trị của kỹ thuật Gene Xpert MTB RIF trong chẩn đoán lao phổi AFB ở người nhiễm HIV

Kỹ thuật Gene Xpert MTB/RIF đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh lao phổi, đặc biệt là ở những người nhiễm HIV. Bệnh lao là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người có hệ miễn dịch suy yếu. Việc phát hiện sớm và chính xác bệnh lao ở nhóm đối tượng này là rất cần thiết để giảm thiểu tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống. Gene Xpert không chỉ giúp phát hiện vi khuẩn lao mà còn xác định khả năng kháng thuốc, từ đó hỗ trợ bác sĩ trong việc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp.

1.1. Đặc điểm của bệnh lao phổi AFB ở người nhiễm HIV

Bệnh lao phổi AFB ở người nhiễm HIV thường có triệu chứng không điển hình, làm cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn. Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi AFB âm tính ở người nhiễm HIV có thể lên tới 61%. Điều này đòi hỏi các phương pháp chẩn đoán nhạy bén hơn để phát hiện bệnh kịp thời.

1.2. Tình hình bệnh lao tại Việt Nam và mối liên hệ với HIV

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ bệnh lao cao, đặc biệt là ở những người nhiễm HIV. Theo báo cáo của WHO, tỷ lệ đồng nhiễm lao và HIV tại Việt Nam vẫn còn cao, gây ra nhiều thách thức trong việc kiểm soát bệnh. Việc áp dụng Gene Xpert MTB/RIF có thể giúp cải thiện khả năng phát hiện và điều trị bệnh lao ở nhóm đối tượng này.

II. Thách thức trong chẩn đoán lao phổi AFB ở người nhiễm HIV

Chẩn đoán lao phổi AFB ở người nhiễm HIV gặp nhiều khó khăn do triệu chứng lâm sàng không điển hình và số lượng vi khuẩn trong đờm thường thấp. Điều này dẫn đến việc nhiều trường hợp không được phát hiện kịp thời, làm tăng nguy cơ tử vong. Các phương pháp truyền thống như soi đờm và nuôi cấy vi khuẩn thường không đủ nhạy để phát hiện bệnh lao ở nhóm bệnh nhân này.

2.1. Những khó khăn trong việc lấy mẫu bệnh phẩm

Việc lấy mẫu đờm ở bệnh nhân nhiễm HIV thường gặp khó khăn do tình trạng sức khỏe yếu và khả năng sản xuất đờm thấp. Điều này làm giảm khả năng phát hiện vi khuẩn lao qua các phương pháp truyền thống.

2.2. Tác động của HIV đến triệu chứng lâm sàng của bệnh lao

HIV làm suy yếu hệ miễn dịch, dẫn đến triệu chứng lâm sàng của bệnh lao trở nên mờ nhạt hơn. Nhiều bệnh nhân có thể không có triệu chứng rõ ràng, khiến cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn.

III. Phương pháp chẩn đoán chính Gene Xpert MTB RIF

Gene Xpert MTB/RIF là một kỹ thuật sinh học phân tử tiên tiến, cho phép phát hiện vi khuẩn lao và xác định khả năng kháng thuốc chỉ trong vòng 2 giờ. Kỹ thuật này đã được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng như một phương pháp chẩn đoán ban đầu cho bệnh lao ở người nhiễm HIV. Gene Xpert không chỉ giúp phát hiện nhanh chóng mà còn cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn.

3.1. Nguyên lý hoạt động của Gene Xpert

Gene Xpert hoạt động dựa trên nguyên lý PCR (Phản ứng chuỗi polymerase), cho phép nhân bản DNA của vi khuẩn lao. Kỹ thuật này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp phát hiện vi khuẩn ngay cả khi số lượng vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm thấp.

3.2. Lợi ích của Gene Xpert trong chẩn đoán lao phổi AFB

Sử dụng Gene Xpert giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán, từ đó tạo điều kiện cho việc điều trị sớm và hiệu quả hơn. Kỹ thuật này cũng giúp giảm thiểu tỷ lệ tử vong do lao ở những người nhiễm HIV.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Gene Xpert trong chẩn đoán lao phổi AFB

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng Gene Xpert có thể cải thiện đáng kể tỷ lệ phát hiện bệnh lao ở người nhiễm HIV. Kỹ thuật này đã được triển khai tại nhiều cơ sở y tế ở Việt Nam và đã cho thấy kết quả khả quan trong việc phát hiện sớm bệnh lao. Việc áp dụng Gene Xpert không chỉ giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán mà còn góp phần vào việc kiểm soát dịch bệnh lao trong cộng đồng.

4.1. Kết quả nghiên cứu về Gene Xpert tại Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện bệnh lao ở người nhiễm HIV khi sử dụng Gene Xpert cao hơn so với các phương pháp truyền thống. Điều này cho thấy Gene Xpert là một công cụ hữu ích trong việc chẩn đoán bệnh lao ở nhóm đối tượng này.

4.2. Triển khai Gene Xpert trong hệ thống y tế

Việc triển khai Gene Xpert trong hệ thống y tế Việt Nam đã được thực hiện một cách đồng bộ, từ việc đào tạo nhân viên y tế đến cung cấp thiết bị và vật tư cần thiết. Điều này đã giúp nâng cao khả năng phát hiện và điều trị bệnh lao ở người nhiễm HIV.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Gene Xpert trong chẩn đoán lao phổi AFB

Gene Xpert MTB/RIF đã chứng minh được giá trị của mình trong việc chẩn đoán bệnh lao phổi AFB ở người nhiễm HIV. Kỹ thuật này không chỉ giúp phát hiện nhanh chóng mà còn cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng kháng thuốc. Trong tương lai, việc mở rộng ứng dụng Gene Xpert có thể giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ phát hiện và điều trị bệnh lao, góp phần vào việc kiểm soát dịch bệnh lao trong cộng đồng.

5.1. Hướng phát triển kỹ thuật Gene Xpert trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển kỹ thuật Gene Xpert để nâng cao độ nhạy và độ đặc hiệu, đồng thời mở rộng ứng dụng của kỹ thuật này trong các lĩnh vực khác nhau của y học.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về bệnh lao

Nâng cao nhận thức về bệnh lao và tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm là rất cần thiết. Cần có các chiến dịch truyền thông để giáo dục cộng đồng về bệnh lao, đặc biệt là ở những người nhiễm HIV.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và giá trị kỹ thuật genne xpert mtb rif trong chẩn đoán lao phổi afb ở người nhiễm hiv

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2015, dù đã có những thành công trong kiểm soát lao, bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn đề sức khỏe chính trên toàn cầu. WHO ước tính, năm 2015 trên toàn cầu có khoảng 12 triệu người hiện mắc lao; 10,4 triệu mắc lao mới, trong đó 1 triệu là trẻ em, tỷ lệ được phát hiện và báo cáo là 6,1 triệu, trong đó 1,2 triệu (12%) đồng nhiễm lao/ HIV. Bệnh lao làm chết khoảng 1,4 triệu người (trong số đó có 1,1 triệu lao đồng nhiễm HIV) [1]. Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có tình hình dịch tễ lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc cao nhất thế giới.

Tính đến ngày 09/08/2016, toàn quốc có 227.225 trường hợp nhiễm HIV (trong đó 85.753 người bệnh chuyển sang giai đoạn AIDS) [2] tính đến hết tháng 12/2015, số bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV là 4. Chẩn đoán lao ở người nhiễm HIV khó khăn do các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng không điển hình, số trường hợp lao ở người nhiễm HIV được xác định có bằng chứng vi khuẩn thông qua soi trực tiếp hoặc nuôi cấy thấp [4]. Tỷ lệ ca bệnh lao phổi âm tính ở những người nhiễm HIV từ 24% tới 61% [5],[7], [3],[8]. Hướng dẫn năm 2007 của Tổ chức Y tế Thế giới nhằm mục đích để phát hiện được nhiều hơn, tránh bỏ sót những trường hợp lao ở người nhiễm HIV, đặc biệt những trường hợp xét nghiệm đờm soi trực tiếp âm tính [9].

Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn chẩn đoán lao phổi ở người nhiễm HIV nhằm tăng khả năng phát hiện và điều trị sớm lao ở những người nhiễm HIV dựa trên triệu chứng lâm sàng và hình ảnh Xquang [10]. WHO năm 2010 đã ra khuyến cáo về việc triển khai kỹ thuật Gene Xpert MTB/RIF (Xpert MTB) như một xét nghiệm ban đầu cho những trường hợp nghi lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 đa kháng thuốc và lao ở người nhiễm HIV [11]. Từ năm 2011, Chương trình chống lao quốc gia Việt Nam (CTCL) đã triển khai từng bước kỹ thuật này như một kỹ thuật chẩn đoán nhanh bệnh lao, bệnh lao vi khuẩn kháng RMP và lao ở người nhiễm HIV [12]. Xpert MTB là một kỹ thuật sinh học phân tử mang tính đột phá, tích hợp 3 công nghệ (chiết tách gen, nhân gen và nhận biết gen), thời gian có kết quả sau 2h với độ chính xác cao, kết quả Xpert MTB cho biết có vi khuẩn lao và vi khuẩn lao có kháng với RMP không, qua đó chẩn đoán nhanh ca bệnh lao và lao đa kháng thuốc [12].

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về giá trị của Gene Xpert trong chẩn đoán lao trên đối tượng lao đồng nhiễm HIV ở khu vực Châu Phi [3],[8],[10],[13], [16]. Tại Việt Nam mới có những nghiên cứu về giá trị của Xpert MTB/RIF trong nhóm nghi lao, lao kháng thuốc, lao trẻ em [17],[20]. Chưa có nghiên cứu nào về khả năng chẩn đoán kỹ thuật này trên đối tượng lao phổi soi đờm trực tiếp âm tính đồng nhiễm HIV. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm hai mục tiêu sau: 1.

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của một số triệu chứng trong chẩn đoán lao phổi AFB(-) ở người nhiễm HIV. Xác định giá trị của kỹ thuật Gene Xpert MTB/RIF và phương pháp lấy đờm tác động trong chẩn đoán lao phổi AFB(-) ở người nhiễm HIV. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh lao, phát hiện bệnh lao trên thế giới 1.

Bệnh lao, lao đồng nhiễm HIV Trong năm 2015 ước tính của WHO, tỷ lệ lao mới khoảng 10,4 triệu, trong đó lao đồng nhiễm HIV chiếm 1,2 triệu (11%), ghi nhận khoảng 1,4 triệu trường hợp tử vong do lao, trong đó lao đồng nhiễm HIV chiếm 0,4 triệu. Tỷ lệ đồng nhiễm lao HIV trung bình của 41 nước có gánh nặng lao và HIV trên toàn thế giới là 20% [1]. Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực châu Phi, thấp nhất là Angôla và Ethiopia 9,6%, cao nhất Swaziland 77% [1]. Khu vực Nam Mỹ, tỷ lệ bệnh nhân lao có nhiễm HIV là 16%.

Khu vực Trung Đông, Châu Âu, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương tỷ lệ 10% [1]. Từ năm 2007, WHO khuyến cáo các can thiệp đồng bộ như tư vấn, dự phòng, chẩn đoán, điều trị lao ở người nhiễm HIV [9]. Thông qua các hoạt động lồng ghép giữa lao và HIV, phát hiện tích cực ca bệnh lao ở những người nhiễm HIV, cung cấp thuốc điều trị dự phòng bằng INH cho những người được xác định không có tình trạng lao hoạt động, sử dụng thuốc kháng virút ART sớm ngay hoặc trong vòng 8 tuần sau khi điều trị lao hoặc trong 2 tuần ở những trường hợp có tình trạng suy giảm miễn dịch nặng [9],[21]. Phát hiện lao trên nhóm đối tượng HIV là một thách thức vì hiện nay các kỹ thuật xét nghiệm đều dựa trên việc tìm vi khuẩn lao trong đờm bằng phương pháp hình thái hoặc kỹ thuật sinh học phân tử.

Việc chẩn đoán lao ở nhóm này chủ yếu vẫn dựa trên tiền sử, triệu chứng lâm sàng và hình ảnh Xquang. Số lượng vi khuẩn nghèo nàn, khó khăn trong việc lấy bệnh phẩm ở nhóm bệnh nhân nhiễm HIV, là nguyên nhân gây khó khăn trong chẩn đoán cũng như trì hoãn trong việc điều trị [22],[25]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lao phổi AFB (-) Phát hiện và điều trị lao phổi AFB (+) luôn là chiến lược hàng đầu của CTCL vì đây là những ca bệnh lao xác định, đồng thời là nguồn lây chính, phản ánh gánh nặng bệnh lao cũng như khả năng kiểm soát lao của CTCL quốc gia.

Bên cạnh đó, việc phát hiện và điều trị lao phổi AFB (-) cũng rất cần thiết, lao phổi AFB (-) chiếm khoảng 30-60% các thể lao phổi, tuy ít lây hơn, tỷ lệ tử vong thấp hơn lao phổi AFB (+), song việc phát hiện khó khăn, phức tạp và tốn kém hơn [26]. Những trường hợp lao phổi AFB (-) nếu không được chẩn đoán sớm, việc điều trị sẽ kém hiệu quả, vi khuẩn trở nên kháng thuốc, có thể gây tử vong và là nguồn lây nguy hiểm cho cộng đồng. Sự tăng số bệnh nhân lao phổi AFB (-) là gánh nặng cho các phòng xét nghiệm và làm giảm giá trị chẩn đoán dương tính của phương pháp soi kính. Ở những nước có tỷ lệ HIV cao, khi tiến hành xét nghiệm giải phẫu bệnh ở bệnh nhân tử vong đã phát hiện được lao phổi ở 40-50% những người nhiễm HIV, nhiều người trong số họ đã không được chẩn đoán lao trước khi chết [27],[28].

Bệnh lao tại Việt Nam 1. Đặc điểm chung bệnh lao tại Việt Nam Theo kết quả điều tra nhiễm và mắc lao toàn quốc năm 2006-2007, số ca hiện mắc có bằng chứng vi khuẩn là 307/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc lao phổi AFB(+) các thể ở Việt Nam là 197/100. Ước tính tỷ lệ phát hiện bệnh lao các thể ở Việt Nam mới chỉ đạt 54%. Như vậy, còn một số lượng lớn bệnh nhân lao phổi AFB dương tính trong cộng đồng vẫn chưa được phát hiện.

Theo WHO, tỷ lệ tử vong do lao là 36/100.000 người tử vong do lao [29]. Tổng số bệnh nhân lao các thể được phát hiện năm 2015 là 102.655 bệnh nhân, tỷ lệ phát hiện lao các thể trên 100.000 dân là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.093 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới chiếm 48,8% [8]. Sau nhiều năm nỗ lực của CTCL, sự đầu tư của Chính phủ, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, công tác chống lao của Việt Nam đã có được những thành công được ghi nhận như; tỷ lệ hiện mắc lao tại Việt Nam giai đoạn 1990-2010 giảm khoảng 4,6% hàng năm, tỷ lệ mới mắc giảm khoảng 2,6% hàng năm, tỷ lệ tử vong do lao giảm khoảng 4,4% hàng năm [8]. Theo báo cáo của WHO năm 2016, dịch tễ lao ở Việt Nam còn cao, xếp thứ 14 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất, xếp thứ 11 trong 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc trên toàn cầu.

Song các chỉ số cơ bản đã cải thiện đáng kể. Như tỷ lệ lao mới các thể giảm từ 197 xuống 128/100. Tỷ lệ tử vong giảm từ 36 xuống 17/100. Các chỉ số dịch tễ bệnh lao tại Việt Nam năm 2015 [1] Dân số (2015) 93.

Nhiễm HIV/AIDS và bệnh lao tại Việt Nam Trong 7 năm gần đây (kể từ năm 2008) tỉ lệ nhiễm mới HIV và tỉ lệ tử vong trong nhóm người nhiễm HIV liên tiếp giảm, tuy nhiên tích lũy số người nhiễm HIV vẫn đang tiếp tục gia tăng. Hết tháng 12/2013, số bệnh nhân lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đồng nhiễm HIV: 4301, số bệnh nhân lao/HIV được điều trị ART: 2601. Năm 2014 số bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV là 34.907, số bệnh nhân lao nhiễm HIV 5,1%, tương đương 3.875 người bệnh lao nhiễm HIV [3],[30]. Số liệu năm 2015, tổng cộng phát hiện 102.087 trường hợp, tỷ lệ phát hiện lao các thể là 110,888/100.000 dân, khỏi và hoàn thành các thể đạt 75,9%, chết 13,7%, tỷ lệ khỏi và hoàn thành điều trị lao nhiễm HIV AFB(+) là 69,5%, chết 14,4% [8].

Với diễn biến và số lượng bệnh nhân nhiễm HIV ở Việt Nam trong thời gian qua, tỷ lệ mắc mới lao trong quần thể dân số chung có xu hướng giảm nhưng chậm, tính chung khoảng 2,6% một năm. Tuy nhiên, trong tương lai những năm tiếp theo nhóm đồng mắc lao và HIV vẫn đang và sẽ tiếp tục là gánh nặng bệnh tật đối với Việt Nam [2],[8]. Bệnh lao ở ngƣời nhiễm HIV 1. Sinh bệnh học bệnh lao và nhiễm HIV 1.

Đặc điểm vi khuẩn lao Vi khuẩn lao do Robert Koch phát hiện (1882), vì vậy còn được gọi là Bacilie de Koch (viết tắt là BK). Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacterium. Mycobacteria là các vi khuẩn hiếu khí, thường có dạng trực khuẩn mảnh hơi cong, không di động, kích thước 0,2µm - 0,6µm x 1,0µm - 10µm. Vi khuẩn lao nuôi cấy phát triển rất chậm, trung bình mỗi lần phân chia sau 48-72h, thường 1-2 tháng mới tạo được khuẩn lạc trên môi trường đặc Loeweinstein (gồm chủ yếu khoai tây, huyết thanh và asparin) [31],[32].

Đặc điểm virút HIV HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae. Có 5 nhóm lớn trong họ Retroviridae. Một trong 5 nhóm đó có khả năng gây nhiễm trùng chậm là Lenti virút HIV-1, HIV-2 có khả năng gây AIDS ở người [33].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ