Chương 1 HOẠT ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM VỀ ĐIỀU TRA VÀ CÔNG TỐ 1.1 đ u tra Trong các văn bản luật hiện nay của Việt Nam chưa có khái niệm pháp lý về "điều tra", đồng thời cũng chưa được giải thích chính thức bởi các cơ quan có thẩm quyền. Trong BLTTHS cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về điều tra. Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng tồn tại các quan điểm khác nhau về điều tra, theo Từ điển Luật học: "Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ" [30].
Theo cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay, điều tra là hoạt động của CQĐT trong điều tra vụ án hình sự, là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra do CQĐT thực hiện. "Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án" [3]. hoặc: "Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội" [5]. Hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nhằm phát hiện, thu thập, củng cố, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án nhằm sử dụng làm chứng cứ chứng minh các tình tiết của vụ án.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. L tiếp tục VKS. Hoạt động điều tra chủ yếu là do CQĐT tiến hành, VKS chỉ tiến hành điều tra trong một số trường hợp nhất định. CQĐT là một mắt xích quan trọng thực hiện nhiệm vụ chung của quá trình tố tụng hình sự.
Đó là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. CQĐT là cơ quan tiến hành tố tụng, nằm trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng hình sự do BLTTHS quy định. CQĐT thực hiện giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra. à giai đoạn đầu nên những sai lầm, thiếu sót của CQĐT trong quá trình điều tra thường gây khó khăn cho giai đoạn truy tố, xét xử.
Không hiếm trường hợp những sai lầm thiếu sót của giai đoạn truy tố, xét xử bắt nguồn từ giai đoạn điều tra. Chính vì vậy, hoạt động điều tra tiến hành khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Nhiệm vụ của hoạt động điều tra do CQĐT tiến hành là điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Khi CQĐT trực tiếp phát hiện tội phạm, cũng như sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác của nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội về tội phạm xảy ra thì CQĐT phải có nhiệm vụ khởi tố vụ án và tiến hành điều tra trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nếu có đủ cơ sở và căn cứ.
Để điều tra khám phá tội phạm, CQĐT cần phải áp dụng mọi biện pháp của BLTTHS quy định. Thực tiễn cho thấy, không có BLTTHS nào có thể liệt kê tất cả các biện pháp và những phương tiện có thể áp dụng trong quá trình điều tra để khám phá thủ phạm mà chỉ quy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định phạm vi chung nhất những biện pháp và phương tiện đó. Do đó, quá trình điều tra, CQĐT ngoài áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật còn phải áp dụng các biện pháp khác phù hợp với pháp luật. Đặc biệt lưu ý, pháp luật yêu cầu CQĐT phải áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm.
Điều này có nghĩa là, trong quá trình điều tra, nếu có cơ sở, CQĐT cần phải áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Thực tiễn cho thấy, không hiếm trường hợp VKS trả lại hồ sơ vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung do CQĐT chưa áp dụng hết các biện pháp theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ đảm bảo tính đầy đủ, tính toàn diện của hoạt động điều tra, giúp cho CQĐT tranh được những sai lầm, thiếu sót. Đồng thời, trong quá trình điều tra, CQĐT cũng cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
CQĐT không chỉ tiến hành điều tra tất cả những tội phạm xảy ra mà còn phải xác định được tội phạm người thực hiện hành vi phạm tội là nhiệm vụ của giai đoạn điều tra. Như vậy, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội vừa là nhiệm vụ của CQĐT vừa là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động điều tra. Bởi vì, chỉ sau khi xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. CQĐT mới lập hồ sơ để đề nghị truy tố người thực hiện hành vi phạm tội.
Xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng có nghĩa là đã khám phá tội phạm, chứng minh làm rõ sự thật của vụ án đã xảy ra. Sau khi điều tra xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội đáng phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì CQĐT phải kịp thời lập hồ sơ đề nghị truy tố. CQĐT cần xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh và thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh từng vấn đề đó, cần đưa hết tất cả những tài liệu, chứng cứ đã thu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thập được vào hồ sơ vụ án, nghiêm cấm những hành vi tẩy xóa, bớt xén, làm mất mát hư hỏng hay đánh tráo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của hoạt động điều tra. Ngoài ra, CQĐT còn có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục ngăn ngừa.
Đây chính là nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm của CQĐT. Nhiệm vụ này có thể xác định là hệ quả của việc thực hiện điều tra khám phá các tội phạm xảy ra. Điều này có thể được giải thích là trong quá trình điều tra. CQĐT phải chứng minh làm rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội và dựa trên cơ sở đó với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng tất yếu phải yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Như vậy, nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm mà CQĐT phải thực hiện chỉ ở trong phạm vi hẹp, chủ yếu là thông qua hoạt động điều tra làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội dựa trên cơ sở đó yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Hay nói cách khác, nhiệm vụ phòng ngừa của CQĐT chính là phòng ngừa tội phạm dựa trên cơ sở tài liệu trong hồ sơ vụ án cụ thể. Hoạt động điều tra : Thứ nhất, hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình tự, tủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định. Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra (như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại…).
Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn n i dung, kết quả điều tra thì phải bí mật. Việc giữ bí mật điều tra là yêu cầu nghiệp vụ, một nguyên tắc được luật định có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc điều tra, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về hoạt động của các ổ nhóm tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội lẩn trốn, nhằm phòng ngừa tội phạm. Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các biện pháp điều tra cho phù hợp, nhưng các vụ án điều phải trải qua những thủ tục chung như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lập hồ sơ vụ án hình sự, đề nghị truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật.
Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định. Để xác định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan. Chẳng hạn, để xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật chứng, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng…). Thứ tư, hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng ác biện pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể; do đó thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.
Thứ năm, trong tố tụng hình sự nước ta, hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của cơ quan VKS. Điều này được thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT, yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT…).