Tổng quan nghiên cứu

Tình hình tội phạm xâm phạm trật tự công cộng và an toàn xã hội trong những năm gần đây diễn biến hết sức phức tạp. Theo số liệu thống kê tư pháp, các vụ án đánh bạc chiếm từ 65% đến 72% tổng số vụ án xâm phạm trật tự xã hội tại nhiều địa phương trên cả nước. Đặc thù của tội đánh bạc là hành vi có tính tương hỗ sát phạt, do đó phần lớn các vụ án đều được thực hiện dưới hình thức đồng phạm với sự tham gia của nhiều đối tượng.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã tách bạch Tội đánh bạc (Điều 321) và Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322), việc áp dụng các quy định về đồng phạm trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc. Điển hình là việc phân định vai trò giữa người thực hành và người giúp sức, cách tính tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc để cá thể hóa hình phạt, cũng như cách hiểu về tình tiết định khung sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử.

Mục tiêu của nghiên cứu là làm sâu sắc các vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của đồng phạm trong tội đánh bạc, khảo sát và phân tích toàn diện thực tiễn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hải Dương. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 428 vụ án hình sự về tội đánh bạc có đồng phạm được xét xử trong giai đoạn 05 năm, từ năm 2019 đến năm 2023. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học giúp giảm thiểu 100% các trường hợp sai sót trong định tội danh và lượng hình, đồng thời nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai nền tảng lý thuyết cốt lõi của khoa học luật hình sự: Lý thuyết kết hợp khách quan - chủ quan về đồng phạm và Lý thuyết phân hóa trách nhiệm hình sự kết hợp cá thể hóa hình phạt.

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, bao gồm 04 loại người: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Tuy nhiên, đối với Tội đánh bạc quy định tại Điều 321, các hành vi tổ chức đã được tách thành tội phạm độc lập tại Điều 322. Do đó, đồng phạm trong tội đánh bạc chủ yếu tồn tại dưới hình thức đồng phạm giản đơn, trong đó các đối tượng tham gia với vai trò người thực hành hoặc người giúp sức không vụ lợi (như cho mượn địa điểm mà không thu tiền hồ).

Cấu thành Tội đánh bạc đòi hỏi thỏa mãn dấu hiệu định lượng với giá trị tiền hoặc hiện vật từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng đối với khoản 1, và từ 50.000.000 đồng trở lên đối với khoản 2. Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích được thua bằng tiền hoặc hiện vật.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự từ năm 1945 đến nay, kết hợp với hồ sơ 428 vụ án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm về tội đánh bạc thụ lý tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và 12 Tòa án nhân dân cấp huyện trực thuộc trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2023.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 428 vụ án với 1.350 bị cáo. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh, tránh sai số do chọn mẫu ngẫu nhiên. Phương pháp phân tích bao gồm: phương pháp thống kê hình sự nhằm định lượng cơ cấu tội phạm; phương pháp phân tích quy phạm pháp luật để giải nghĩa các điều luật; phương pháp so sánh án văn và tổng kết thực tiễn xét xử. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp đánh giá chính xác mức độ tương thích giữa quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, qua thống kê 428 vụ án đánh bạc tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2019 - 2023, có 349 vụ án được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, chiếm tỷ lệ 81,5%. Trong đó, 92,3% là hình thức đồng phạm giản đơn giữa các con bạc trực tiếp tham gia sát phạt, chỉ có 7,7% vụ án có sự tham gia của người giúp sức.

Thứ hai, về cơ cấu vai trò, trong số 1.350 bị cáo bị đưa ra xét xử, có 1.196 bị cáo (chiếm 88,6%) giữ vai trò người thực hành trực tiếp và 154 bị cáo (chiếm 11,4%) giữ vai trò giúp sức. Phần lớn các hành vi giúp sức là cho mượn nhà, địa điểm hoặc chở người đi đánh bạc mà không có thỏa thuận ăn chia hay thu tiền xâu.

Thứ ba, cơ cấu hình phạt áp dụng cho thấy Tòa án đã quán triệt nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự: hình phạt tù giam chiếm 34,2%, cải tạo không giam giữ và án treo chiếm 45,8%, hình phạt tiền là hình phạt chính chiếm 20,0%. Tỷ lệ các bản án bị cấp phúc thẩm sửa án về phần hình phạt do chưa đánh giá đúng vai trò đồng phạm chiếm khoảng 3,8% tổng số án thụ lý.

Thứ tư, có tới 65% các vụ án đánh bạc bằng hình thức số đề, cá độ bóng đá sử dụng điện thoại di động gửi tin nhắn SMS, Zalo hoặc Telegram gây lúng túng cho Hội đồng xét xử trong việc xác định có áp dụng tình tiết định khung "sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội" theo điểm c khoản 2 Điều 321 hay không.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn xét xử tại Hải Dương phản ánh rõ nét sự chuyển dịch từ đánh bạc truyền thống sang các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin. Dữ liệu nghiên cứu được trình bày chi tiết thông qua Bảng 2.1 (Tỷ lệ án đánh bạc so với các tội phạm trật tự xã hội) và Bảng 2.2 (Cơ cấu các vụ án đánh bạc có đồng phạm), có thể trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện số lượng bị cáo gia tăng trung bình 12% mỗi năm và biểu đồ tròn phân bổ các nhóm hình phạt.

Nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc trong thực tiễn bắt nguồn từ việc Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành trên cơ sở Bộ luật Hình sự năm 1999 đã không còn hoàn toàn phù hợp với Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng chưa có văn bản thay thế. So sánh với các nghiên cứu tại một số tỉnh lân cận như Bắc Ninh hay Hưng Yên, tình trạng áp dụng không đồng nhất tình tiết sử dụng phương tiện điện tử cũng diễn ra tương tự. Việc dùng điện thoại gửi tin nhắn cáp đề bản chất chỉ là phương tiện liên lạc thuần túy, không tạo ra phương thức đánh bạc trực tuyến mới, do đó việc một số bản án áp dụng khoản 2 Điều 321 đã làm gia tăng tính nghiêm khắc không cần thiết đối với người phạm tội có vai trò thứ yếu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Tòa án nhân dân Tối cao cần phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Công an khẩn trương ban hành Nghị quyết liên tịch hướng dẫn áp dụng Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2024 - 2025. Cần định nghĩa rõ "sử dụng mạng internet để phạm tội" chỉ áp dụng đối với hành vi đánh bạc trực tuyến trên các cổng game, trang web cá cược, loại trừ hành vi dùng tin nhắn điện thoại liên lạc đơn thuần.

Thứ hai, Tòa án nhân dân Tối cao định kỳ hàng năm tổ chức tối thiểu 02 đợt tập huấn chuyên đề cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân các cấp về kỹ năng phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm giản đơn, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bản án đúng người, đúng tội, không bị hủy sửa lên trên 99%.

Thứ ba, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần lựa chọn và phát triển tối thiểu 02 án lệ tiêu biểu liên quan đến việc xác định số tiền dùng để đánh bạc của từng con bạc trong vụ án có nhiều người tham gia và án lệ về phân biệt người giúp sức trong tội đánh bạc với tội gá bạc trước năm 2026.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân và Công an tỉnh Hải Dương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật định kỳ 04 lần mỗi năm tại các khu công nghiệp, cụm dân cư đông công nhân, hướng tới mục tiêu kéo giảm từ 15% đến 20% số vụ đánh bạc tự phát và lô đề trong quần chúng nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận vững chắc và bảng tổng hợp thực tiễn để định tội chính xác, phân hóa mức án công bằng giữa người thực hành và người giúp sức trong các vụ án đánh bạc đông người.

Kiểm sát viên và Điều tra viên: Hỗ trợ nắm vững phương pháp xác định số tiền đánh bạc dùng làm căn cứ định khung, kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ kỹ thuật số từ điện thoại di động và tài khoản mạng xã hội.

Luật sư và Chuyên viên pháp lý: Cung cấp nguồn luận cứ thực tiễn sắc bén phục vụ quá trình bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong việc chứng minh vai trò giúp sức không đáng kể hoặc hành vi vượt quá của đồng phạm.

Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên ngành Luật: Nguồn tài liệu chuyên khảo có hệ thống về chế định đồng phạm và cấu thành tội phạm đánh bạc, hỗ trợ giảng dạy và nghiên cứu các đề tài thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Nhiều người cùng tham gia đánh bạc có bắt buộc phải bị xử lý với tư cách đồng phạm không? Đúng vậy. Tội đánh bạc là tội phạm mang tính tương hỗ, đòi hỏi phải có từ 02 người trở lên cùng tham gia sát phạt. Khi tổng số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, tất cả những người tham gia đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách đồng phạm giản đơn, giữ vai trò người thực hành theo Điều 17 và Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Số tiền dùng để đánh bạc của từng bị cáo được xác định như thế nào trong vụ án có đồng phạm? Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao, số tiền đánh bạc là tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền thu trong người các con bạc dùng vào việc sát phạt. Toàn bộ người đồng phạm phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền chung, nhưng Tòa án sẽ căn cứ số tiền cụ thể từng bị cáo bỏ ra để quyết định mức hình phạt tương xứng.

Chủ nhà cho mượn địa điểm đánh bạc nhưng không lấy tiền thì phạm tội gì? Nếu chủ nhà cho người khác đánh bạc tại nhà mình mà không thu tiền hồ, không cầm cố tài sản, không bố trí người canh gác (không thỏa mãn Điều 322), thì hành vi này chỉ cấu thành Tội đánh bạc theo Điều 321 Bộ luật Hình sự với vai trò là người giúp sức trong vụ án đồng phạm.

Nhắn tin qua Zalo, Telegram để đánh số đề có bị coi là sử dụng mạng internet phạm tội không? Thực tiễn pháp lý hiện nay khẳng định việc nhắn tin qua mạng xã hội chỉ là phương tiện liên lạc, truyền tải thông tin đặt cược. Người phạm tội không trực tiếp tham gia vào hệ thống đánh bạc trực tuyến do máy chủ nước ngoài vận hành, vì vậy không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c khoản 2 Điều 321.

Hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án đánh bạc được xử lý ra sao? Theo khoản 4 Điều 17 Bộ luật Hình sự, những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá của người thực hành. Ví dụ, nếu một con bạc tự ý có hành vi dùng vũ lực cướp lại tiền thua bạc thì người đó tự chịu trách nhiệm về tội cướp tài sản.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về chế định đồng phạm và cấu thành Tội đánh bạc theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Phân tích chi tiết 428 vụ án đánh bạc có đồng phạm tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2019 - 2023, làm rõ đặc trưng 92,3% là đồng phạm giản đơn.
  • Nhận diện những hạn chế, xung đột pháp lý trong việc áp dụng tình tiết định khung về phương tiện điện tử và xác định tư cách người giúp sức.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và phát triển án lệ trước năm 2026.
  • Đưa ra các khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án và công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Nghiên cứu mở ra hướng phát triển tiếp theo về phòng chống tội phạm cờ bạc công nghệ cao và cá cược xuyên biên giới giai đoạn 2025 - 2030. Luận văn là công trình chuyên khảo hữu ích, kính mời các nhà nghiên cứu, Thẩm phán, Kiểm sát viên và học viên luật tham khảo áp dụng trong công tác chuyên môn.