Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI ĐÁNH BẠC 1. Một số vấn đề lý luận về đồng phạm trong tội đánh bạc 1. Khái niệm đồng phạm a. Khoa học pháp lý và luật thực định nước ta đều đưa ra khái niệm đồng phạm với những nội hàm phản ánh mối liên hệ giữa các mặt khách quan và chủ quan của tội phạm.
Tội phạm là một chế định quan trọng, không chỉ là cơ sở cho mọi chế định khác mà còn có tính chất quyết định và nền tảng của luật hình sự. Trên cơ sở này, các chế định như trách nhiệm hình sự (TNHS), miễn TNHS, và hình phạt được hình thành, tạo nên hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự (PLHS) làm cơ sở cho việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Chế định đồng phạm, với những quy định về căn cứ, hình thức đồng phạm và các loại người cũng như TNHS đối với họ.là một bộ phận quan trọng của luật hình sự nước ta, nó không những có ý nghĩa xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của đồng phạm và của từng người khi tham gia đồng phạm mà còn có ý nghĩa phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt đối với những người trong đồng phạm. Công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm trên thực tế đã cho thấy rằng tội phạm có thể được thực hiện bởi nhiều người hoặc nhiều pháp nhân thương mại.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp tội phạm được thực hiện bởi một nhóm gồm hai hoặc nhiều người hoặc pháp nhân thương mại cùng hợp tác. Khi các cá nhân hay pháp nhân thương mại thực hiện cùng một hành vi phạm tội và có chung ý đồ, thì hành vi này được gọi là đồng phạm. Trong luật hình sự, khái niệm đồng phạm là một dạng phạm tội có những đặc trưng và đặc thù riêng. Điều này dẫn đến việc cơ sở, phạm vi và nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của đồng phạm khác biệt so với 8 trường hợp phạm tội do một cá nhân hoặc một pháp nhân thực hiện độc lập.
Vì vậy, việc lập ra các quy định riêng về đồng phạm là cần thiết. Đồng phạm cũng được xem như một phần liên quan, bổ sung đến chế định tội phạm trong luật hình sự Việt Nam. Xuất phát từ quan điểm này, Giáo trình Luật hình sự phần chung của Khoa Luật ĐHQGHN đã đưa ra khái niệm: “Đồng phạm là trường hợp có từ hai người hoặc hai pháp nhân thương mại trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [2]. Khái niệm này phản ánh được bản chất của đồng phạm trong thực tế và trên cơ sở quan niệm tội phạm là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan, chủ quan, do đó, đồng phạm phải là sự liên kết của những người cùng thực hiện tội phạm.
Khi nghiên cứu đề tài đề án này, học viên chia sẻ, tán đồng với khái niệm đồng phạm nêu trên và lấy đó làm cơ sở, căn cứ để giải quyết các nội dung tiếp theo của đề án này. Luật hình sự nước ta quy định chế định đồng phạm đồng phạm ngay từ khi thành lập nước trong các văn bản pháp luật đơn hành và các lần pháp điển ở các Bộ luật hình sự năm 1985, 1999 và 2015. Các văn bản pháp luật hình sự này đều đề cấp đến khái niệm đồng phạm phản ánh sự liên kết giữa những người trong đồng phạm đối với các yêu tố khách quan, chủ quan của tội phạm. Cách mạng tháng Tám thành công, ngay sau đó đã có một số văn bản về lĩnh vực hình sự được ban hành quy định việc trừng trị đối với các tội phạm cụ thể, trong đó đã có quy định về xử lý đối với trường hợp cộng phạm.
Nguyên tắc xử lý chung: “Những người tòng phạm hoặc oa trữ, những tang vật của tội phạm đều sẽ xử phạt như chính phạm” (Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/02/1946 quy định về việc truy tố các tội ám sát, bắt cóc và tống tiền). Trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, chưa có bất kỳ luật pháp nào định rõ về khái niệm và đặc điểm của cộng phạm đối với các loại tội phạm. Sau đó, một số văn bản pháp luật đã được ban hành để quy định 9 nguyên tắc xử lý với sự phân biệt trách nhiệm hình sự. Cụ thể là các Toà án cần phải phân định rõ ràng giữa các hình thức cộng phạm khác nhau, đặc biệt là phân biệt giữa hành vi “oa trữ” tức là việc chứa chấp, tiêu thụ tài sản do chiếm đoạt được mà có sự hứa hẹn trước, với hành vi “oa trữ” mà không có hứa hẹn trước, được xem là một hành vi phạm tội riêng biệt.
Hơn nữa, Toà án nhân dân Tối cao đã ban hành các hướng dẫn cụ thể về vấn đề cộng phạm đối với một số loại tội phạm nhất định. Để tạo nên cơ sở pháp lý thống nhất trong việc xử lý đối với nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm, Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1985 định nghĩa đồng phạm như là trường hợp khi hai hoặc nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Điều 20 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi vào năm 2009) đã điều chỉnh và làm rõ hơn về định nghĩa đồng phạm như sau: “Đồng phạm là khi hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm”. Sau đó, khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) đã kế thừa toàn bộ định nghĩa trên về đồng phạm.
Bên cạnh đó Bộ luật hình sự năm 2015 đã có nội dung mới rất quan trọng, đó là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, vì vậy căn cứ Điều 17 và Điều 74 Bộ luật hình sự, có thể hiểu thuật ngữ “người” trong định nghĩa trên bao gồm cả cá nhân và pháp nhân thương mại cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Như vậy đồng phạm được định nghĩa là khi từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Đặc điểm cơ bản của đồng phạm Trên cơ sở nội dung định nghĩa về khái niệm đồng phạm đã phân tích trên và căn cứ vào thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có đồng phạm cho thấy đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc trưng chung và bắt buộc sau: a) Những dấu hiệu khách quan Thứ nhất, điều bắt buộc là phải có ít nhất hai người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Điều này là yếu tố cần thiết thuộc mặt khách quan 10 của đồng phạm; nếu không có sự tham gia của nhiều người, không thể coi là có sự hình thành đồng phạm.
Khi chỉ một người thực hiện tội phạm, đây chỉ đơn thuần là một trường hợp phạm tội cá nhân, độc lập, và hậu quả của hành vi phạm tội là do hành động và ý chí của một người. Chỉ khi có ít nhất hai người tham gia vào việc thực hiện tội phạm, thì mới có sự thảo luận và hành động cùng nhau. Trong các vụ án liên quan đến đồng phạm, những người tham gia phạm tội phải đáp ứng các yêu cầu của chủ thể tội phạm. Điều này bao gồm độ tuổi, theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra đối với những người thực hiện, họ cũng phải có các đặc điểm của chủ thể đặc biệt nếu tội phạm mà họ tham gia cấu thành. Mỗi người phạm tội phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, bao gồm hành vi trực tiếp, tổ chức, xúi giục hoặc giúp đỡ. Nếu thiếu một trong các hành vi này, không thể coi là tham gia thực hiện tội phạm và do đó không thể xem là đồng phạm. Thực tế cho thấy, trong các vụ đồng phạm, thường có người trực tiếp thực hiện tội phạm, song cũng có trường hợp chỉ một số người trực tiếp thực hiện tội phạm và những người khác tham gia bằng cách tổ chức, xúi giục hoặc giúp đỡ.
Những hành vi này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tội phạm. Ngoài ra, trong các vụ xét xử, có thể có người đồng phạm tham gia một loại hành vi, hoặc có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau, từ giai đoạn bắt đầu cho đến khi tội phạm xảy ra hoặc chưa kết thúc. Trong pháp lý về đồng phạm, mỗi người phạm tội phải tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội, và các hành vi này cần phải mang tính chất nguy hiểm đáng kể đối với xã hội để được xem là tội phạm. Mức độ tham gia của từng người có thể khác nhau khi nhiều người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm.
Có người tham gia nhiều, có người tham gia ít, và đôi khi sự tham gia của họ có vai trò quyết định đối với 11 hoạt động phạm tội chung và hậu quả tội phạm. Tuy nhiên, có những trường hợp các hành vi của họ chỉ gây tác động nhỏ và không mang tính nguy hiểm đáng kể đối với xã hội. Dù về hình thức, hành vi này có thể được xem là hành vi đồng phạm, nhưng do tác động thực tế không đủ đáng kể, nên không được xem là hành vi đồng phạm. Thứ hai, để xem xét việc có đồng phạm hay không, cần phải có sự cùng chung hành động (hoặc liên hiệp hành động) của những người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm.
Trong thực tế của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, không phải mọi trường hợp hai người cùng có hành động phạm tội cố ý vào cùng một thời điểm và địa điểm sẽ được coi là đồng phạm. Để xác định đồng phạm, cần phải yêu cầu những người này thực hiện cùng một loại tội phạm cố ý, nghĩa là những hành vi này phải mang tính nguy hiểm đáng kể và được thực hiện trong một mối liên kết thống nhất và tương tác với nhau. Hành vi của người này đóng vai trò là tiền đề, hỗ trợ, bổ sung và là điều kiện cần và đủ để hành vi của người khác được thực hiện, ảnh hưởng và làm thay đổi bản chất của nó, làm cho nó hiệu quả và tốt hơn. Mỗi hành vi của từng người, là một phần không thể thiếu trong hành vi phạm tội chung của họ; tất cả đều hướng đến việc thực hiện một tội phạm cụ thể và đạt được kết quả phạm tội theo ý chí chung và đồng nhất.
Trong các trường hợp đồng phạm đơn giản, mỗi người có thể thực hiện toàn bộ hành vi được mô tả trong thành phần của một tội phạm cụ thể.