ĐẶT VẤN ĐỀ Nhân lực y tế (NLYT) đƣợc coi là một phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ y tế. Việc quản lý và điều hành tốt nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế mà còn tăng cƣờng công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực [4]. Theo dự báo với tốc độ tăng trƣởng dân số nhƣ hiện nay thì ƣớc tính đến năm 2035 thế giới sẽ có khoảng 8,6 tỷ ngƣời. Điều đó đồng nghĩa sẽ thiếu khoảng 12,9 triệu nhân viên y tế (NVYT).
Trong năm 2035, các vùng có mức thiếu hụt NVYT cao nhất là khu vực Đông Nam Á tiếp theo là ở khu vực Châu Phi [32]. Việt Nam đang đối mặt với việc phân bố nhân lực y tế bất hợp lý theo vùng miền, lĩnh vực. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt nhân lực y tế, phân bố bất hợp lý, dịch chuyển nhân lực ở một số vùng địa lý và lĩnh vực công tác nhƣ: Thu nhập thấp, điều kiện làm việc khó khăn, ít có cơ hội phát triển nghề nghiệp [4]. Động lực làm việc là các quá trình thể hiện cƣờng độ, định lƣợng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Hoạt động của ngành y tế phụ thuộc rất nhiều vào động cơ của nhân viên, chất lƣợng khám chữa bệnh, hiệu quả và công bằng, bởi sự tình nguyện làm việc của nhân viên. Nguồn lực sẵn có và năng lực của nhân viên là rất cần thiết nhƣng không đủ để đảm bảo hiệu suất công việc mong muốn. Mặc dù các ƣu đãi về tài chính có thể là những yếu tố quyết định quan trọng cho động lực làm việc của nhân viên, nhƣng không đủ và có thể giải quyết đƣợc động lực làm việc của nhân viên. Động lực làm việc của NVYT trong đó có điều dƣỡng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả thực hiện công việc của tổ chức.
Động lực làm việc là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định đến sự thành công, vì chỉ khi mỗi cá nhân trong tổ chức có động lực, có sự tự nguyện sẽ tạo ra động cơ khuyến khích làm việc, thúc đẩy sự sáng tạo, tăng hiệu quả thực hiện công việc cho bản thân và cho tổ chức. Việc tăng cƣờng tạo động lực làm việc cho nhân viên trong đó có điều dƣỡng càng cần thiết hơn khi trong thời gian sắp tới các bệnh viện sẽ đƣợc giao quyền tự chủ cả về tài chính và nhân lực. 2 Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện chuyên khoa hạng I, trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh với quy mô 550 giƣờng bệnh, chỉ tiêu biên chế đƣợc giao năm 2017 là 710 biên chế, có chức năng khám chữa bệnh chuyên khoa truyền nhiễm cho nhân dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các nơi khác chuyển đến theo phân tuyến. Bệnh viện có 10 phòng chức năng, 14 khoa Lâm sàng và 5 khoa Cận lâm sàng; tổng số công chức, viên chức, ngƣời lao động hiện có là 680 ngƣời, với 185 nam và 495 nữ.
Để nâng cao chất lƣợng phục vụ bệnh nhân, nắm đƣợc tâm tƣ nguyện vọng của điều dƣỡng. Từ trƣớc tới nay, tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh chƣa có nghiên cứu nào về động lực làm việc của điều dƣỡng và câu hỏi đƣợc đặt ra là động lực làm việc của điều dƣỡng đang công tác tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhƣ thế nào? Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến động lực làm việc của điều dƣỡng khoa Lâm sàng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh? Từ những lý do trên mà chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Động lực làm việc và một số yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017”. Mô tả động lực làm việc của điều dƣỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của điều dƣỡng tại các khoa Lâm sàng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Nhân lực y tế Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đƣa ra định nghĩa: “NLYT bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y.); kể cả những ngƣời làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (nhƣ quân đội, trƣờng học hay các doanh nghiệp) [31]. NLYT đƣợc coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính đảm bảo hiệu quả chất lƣợng của dịch vụ y tế. Các lựa chọn của NVYT về sử dụng nguồn lực (chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc hoặc quy định về danh mục trang thiết bị ở các tuyến…) sẽ ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả của toàn hệ thống y tế. Khi xây dựng chính sách, nhà hoạch định chính sách thƣờng tập trung vào khâu phát triển nguồn nhân lực, trong khi cần phải quan tâm đến tính hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực cả từ khía cạnh nhà nƣớc lẫn các cơ sở y tế.
Quản lý, điều hành tốt nguồn NLYT không những giúp nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế mà còn tăng cƣờng công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực [5]. Các đặc tính và tầm quan trọng của nguồn NLYT trong việc đảm bảo hiệu quả, chất lƣợng và công bằng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn NLYT một cách hiệu quả nhất. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã thể hiện rõ NLYT cần đƣợc quan tâm đặc biệt [5]. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là NLYT sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động 5 quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (NLYT tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vƣờn).
Khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát huy NLYT, cần đề cập tất cả mọi ngƣời thuộc NLYT theo định nghĩa đã nêu trên [5]. Khái niệm Điều dƣỡng là một nghề vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học. Ngành điều dƣỡng có vinh hạnh đƣợc phục vụ sức khỏe con ngƣời nên cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ thích hợp để duy trì và nâng cao tình trạng sức khỏe cho nhân dân. Tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dƣỡng đƣợc đƣa ra khác nhau [1].
Theo Virginia Handerson (1960): “Chức năng duy nhất của ngƣời điều dƣỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của ngƣời bệnh hoặc ngƣời khỏe, hoặc cho cái chết đƣợc thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức. Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt đƣợc sự độc lập càng sớm càng tốt” [1]. Theo Hội điều dƣỡng Mỹ (1980): “Điều dƣỡng là chẩn đoán và điều trị những phản ứng của con ngƣời đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra” [1]. Do đặc thù của nghề điều dƣỡng là làm công việc chăm sóc từ đơn giản nhất đến những công việc phức tạp, từ việc thay drap trải giƣờng tới các công việc nghiên cứu, quản lý, đào tạo và trở thành các chuyên gia điều dƣỡng lâm sàng có trình độ.
Do đó, ngành điều dƣỡng gồm nhiều cấp trình độ để đáp ứng nhu cầu hành nghề và yêu cầu chăm sóc sức khỏe. Ngày nay, do sự phát triển của y học đòi hỏi tính chuyên môn hóa ngày càng cao đã làm cho ngành điều dƣỡng trở thành một ngành đa khoa có nhiều chuyên khoa nhƣ: điều dƣỡng nhi, điều dƣỡng phòng mổ, điều dƣỡng tâm thần, điều dƣỡng cộng đồng…[5]. Ngƣời điều dƣỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã đƣợc quy định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc 6 theo thông tƣ liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015, của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật y [3]. Nhiệm vụ Theo Thông tƣ liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng, điều dƣỡng gồm 3 ngạch (điều dƣỡng hạng II, điều dƣỡng hạng III, điều dƣỡng hạng IV) đƣợc quy định cụ thể nhƣ sau: a) Chăm sóc ngƣời bệnh tại cơ sở y tế.
b) Sơ cứu, cấp cứu. c) Truyền thông, tƣ vấn, giáo dục sức khỏe. d) Chăm sóc sức khỏe cộng đồng. đ) Bảo vệ và thực hiện quyền của ngƣời bệnh.
e) Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị. g) Đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp [3]. Động lực và động lực làm việc “Động lực là các quá trình thể hiện cƣờng độ, định lƣợng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” [19]. “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Động lực cá nhân là kết quả của nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời, trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời. Do đó, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố: văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực, cũng nhƣ việc thực hiện các chính sách đó.