Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp nâng cao động lực làm việc của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC TẠI CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.
Công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở [24].
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn với vị trí, tính chất tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoặc một số ngành, một số lĩnh vực ở địa phương; có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn và hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết các công việc của công dân, tổ chức trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ chấp hành, điều hành (chỉ đạo, điều hành) của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp, bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước của UBND cùng cấp ở địa phương [24]. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp thực hiện chức năng tham mưu, tư vấn và giúp UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trong việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành quyết định hành chính,tổ chức thực hiện pháp luật về ngành, lĩnh vực trong phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước của 9 UBND ở địa phương nhằm bảo đảm các văn bản pháp luật của nhà nước được thực hiện thống nhất, có hiệu quả từ trung ương đến cơ sở [36]. Trong đó, Cơ quan chuyên môn có 2 chức năng chính là tham mưu giúp UBND triển khai các biện pháp quản lý nhà nước trên các ngành, lĩnh vực và tổ chức triển khai thực các quyết định chỉ đạo của UBND. Đối với chức năng tham mưu, vai trò của công chức ở các phòng, ban, chuyên môn là rất quang trọng.
Họ là chủ thể chính để đề xuất, tham mưu các ý kiến chỉ đạo. Công chức được phân công nhiệm vụ theo dõi sát sao từng lĩnh vực, nội dung, đối tượng quản lý. Bản thân họ hiểu rõ hơn ai hết về tính chất, diễn biến cũng như quá trình vận động của các đối tượng quản lý. Từ sự hiểu biết này, công tác tham mưu sẽ trở nên chính xác và hiệu quả.
Đối với chức năng tổ chức triển khai thực hiện. Đây chính là môi trường để công chức thể hiện được bản lĩnh công tác, khả năng sáng tạo, khả năng ứng phó với những tình huống phức có thể xảy ra trong thực tiễn. Công chức giỏi là người biết trù liệu những vấn đề phát sinh để chuẩn bị các điều kiện vật chất đủ để chủ động xử lý, tránh bị động để xảy ra những sự cố bất trắc gây hậu quả nghiêm trọng. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có phòng và tương đương phòng; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND quận và theo quy định của pháp luật.
12 cơ quan chuyên môn hoạt động theo quy chế tổ chức được quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cụ thể có các phòng: Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng 10 Giáo dục và Đào tạo; Phòng Y tế ; Phòng Kinh tế; Phòng Quản lý đô thị; Thanh tra; Văn phòng UBND. Công chức tại các cơ quan chuyên môn 1. Khái niệm Theo Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức, quy định như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Để chi tiết trong nội dung cần có sự phân biệt động lực làm việc của công chức lãnh đạo và công chức chuyên môn. Tuy nhiên, để có điều kiện tập trung nghiên cứu chuyên sâu, trong phạm vi đề tài luận văn này tập trung nghiên cứu động lực làm việc của công chức chuyên môn tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói chung.Đặc điểm của công chức tại các cơ quan chuyên môn - Họ Là chủ thể của nền công vụ.
Đội ngũ CC hành chính nhà nước là những người có vị trí trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Đội ngũ CC là hạt nhân cơ bản trong thực thi công vụ trên địa bàn quản lý cấp huyện, là chủ thể thực sự tiến hành các công vụ cụ thể và cũng chính là yếu tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động, vận hành có hiệu lực, hiệu quả. 11 - Là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao. Tính chuyên nghiệp của CC hành chính nhà nước được quy định bởi địa vị pháp lý và được thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ hành chính.
Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên mức độ chuyên nghiệp của người CC hành chính nhà nước. - Là đội ngũ tương đối ổn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng. Khác với CC của một số nước, không có tính ổn định, đội ngũ CC hành chính nhà nước của nước ta hoạt động ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định "biên chế nhà nước". - Hoạt động của CC hành chính nhà nước diễn ra thường xuyên, liên tục.
Các hoạt động quản lý của cơ quan quản lý nhà nước đều liên quan hàng ngày và trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của tất cả mọi người dân, đòi hỏi hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đội ngũ CC hành chính nhà nước phải đủ năng lực, thẩm quyền để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm vi quản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả. - Đội ngũ CC hành chính nhà nước phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế: Trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, tất yếu Nhà nước phải giải quyết các quan hệ pháp lý mang yếu tố quốc tế, đồng thời phải ký kết và thực hiện các công ước quốc tế, các tập quán và thông lệ quốc tế trong tất cả các lĩnh vực. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ CC hành chính nhà nước phải có tri thức, phải am hiểu và tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Vai trò của đội ngũ công chức - Đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
- Là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị. - Là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước. 12 - Là đội ngũ chủ yếu, trực tiếp tham gia xây dựng, triển khai, thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của đất nước. Động lực làm việc của công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1.
Khái niệm: Động lực làm việc là một vấn đề mà được nghiên cứu, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, từ khía cạnh như tâm lý học, kinh tế học, quản lý học và hành vi tổ chức… Vì vậy, khái niệm này không có một định nghĩa duy nhất được công nhận chung. Thuật ngữ: động lực làm việc, có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - Động lực làm việc có thể được hiểu là những lực có tác dụng tạo năng lượng, chỉ huy và duy trì hành vi, cách ứng xử (của con người) (theo định nghĩa của Perry và Porter) [37]. - Hoặc Động lực làm việc là sự tự nguyện nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng tới những mục tiêu của tổ chức, được tạo điều kiện bởi khả năng của những nỗ lực đó để thỏa mãn một số nhu cầu cá nhân [38]. - “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [6].
- “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.