Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC 1. Động lực làm việc 1. Động lực Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, không tự nhiên sinh ra và mất đi mà biến đổi theo những hoàn cảnh, thời gian nhất định. Con người cũng như vậy, trong cuộc sống con người có rất nhiều hoạt động cần phải thực hiện để cải tạo cuộc sống, nhằm mang lại những giá trị tốt đẹp nhất.
Và điều khiến cho con người luôn vận động để tồn tại và phát triển là nhu cầu và động cơ thúc đẩy. Khi nảy sinh sự ham muốn về bất kỳ điều gì, con người sẽ có động lực mạnh mẽ thôi thúc hành động để đạt được mục tiêu, thỏa mãn nhu cầu đó. Vậy có thể hiểu động lực là gì? Đối với các học giả thế giới, có thể kể đến như: Maier và Lawler (1973) đưa ra: “Động lực là sự khác biệt và tự nguyện của mỗi cá nhân”. Hay theo cách hiểu của Broussard, S.C và các cộng sự (2004) “động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó”.[23] Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó.
Động lực không duy trì trạng thái bất biến đối với mọi cá nhân hay trong mọi hoàn cảnh mà có sự biến đổi theo không gian và thời gian theo sự thay đổi về nhu cầu của con người. Khi con người chưa đạt được nhu cầu của mình thì động lực sản sinh để người đó hành động sao cho đạt được nhu cầu 15 ấy, tức là làm hài lòng bản thân. Tại mỗi thời điểm khác nhau, yêu cầu và mục đích cần thỏa mãn của con người là khác nhau, do đó con người luôn phải nỗ lực hết mình để thực hiện mục tiêu. Nhu cầu càng cao, mức độ nỗ lực càng lớn, chứng tỏ động lực càng nhiều.
Trái lại, khi mong muốn đã đạt được, động lực sẽ giảm đi. Hoặc cũng có thể xuất hiện nhu cầu mới, sản sinh động lực thúc đẩy mới. Vậy động lực là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người để thực hiện những hành động. Động lực làm việc Trải qua các thời kỳ lịch sử, xã hội loài người tồn tại và phát triển được đến hôm nay là nhờ có lao động của con người.
Đó là những hoạt động do con người thực hiện để tác động, khai thác thế giới tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống. Lao động là hoạt động đặc trưng riêng của con người. Do đó kết quả lao động phụ thuộc vào khả năng và động lực làm việc của người lao động. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc.
Nhưng nhìn chung các cách hiểu khác nhau đều hướng đến điểm chung đó là sự nỗ lực, mong muốn và tự nguyện của người lao động làm việc để đạt mục tiêu của tổ chức. Michell (1982) khẳng định “động lực làm việc có thể hiểu là những lực đẩy bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đó”.[26] Dưới góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó”. [3,tr4] Trong giáo trình hành vi tổ chức, TS Bùi Anh Tuấn cho rằng: “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của 16 động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”[18,tr85].
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân (2004), “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [4,tr134]. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực PGS. Nguyễn Thị Hồng Hải trong cuốn Giáo trình Động lực làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, quan niệm: “Động lực làm việc xuất phát từ sự khao khát và tự nguyện nên khiến con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong tổ chức và do đó họ có thể vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất”.[10,tr22] Động lực được mô tả như những ước muốn, mong muốn, … kích thích hoạt động của con người. Từ những quan niệm trên, tác giả cho rằng động lực làm việc là sự thôi thúc mỗi cá nhân phát huy năng lực, tiềm năng, khơi dậy nỗ lực hành động, vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được kết quả tốt nhất trong công việc.
Như vậy, để có được động lực làm việc, cần phải có sự nỗ lực, kiên trì và mục tiêu đi kèm. Nhờ có động lực làm việc mà người lao động trong tổ chức có được nỗ lực, sự cam kết và sáng tạo trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với bất kỳ tổ chức nào, động lực làm việc của người lao động cũng có tầm quan trọng nhất định. Động lực có ảnh hưởng đến hiệu suất, năng suất làm việc của cá nhân, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Vì thế, câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý là làm thế nào để tạo được động lực làm việc cho nhân viên trong tổ chức của mình. Một số học thuyết về động lực làm việc Các học thuyết tạo động lực làm việc rất đa dạng và phong phú. Có thể chia thành nhóm các học thuyết về nội dung và nhóm các học thuyết về quá trình. Các nhà quản lý khi đưa ra các chính sách tạo động lực làm việc cần nghiên cứu kỹ lưỡng các học thuyết để có thế lựa chọn các biện pháp phù hợp.
Thuyết nhu cầu của A.Maslow Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ cho rằng nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Theo ông, trong mọi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu 5 thứ bậc: Nhu cầu về sinh lý: là những nhu cầu cơ bản của con người, giúp con người có thể duy trì bản thân cuộc sống (ăn, mặc, ở, đi lại…) Nhu cầu về an toàn: là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc làm, tài sản. Nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu được quan hệ với những người khác để trao nhận tình cảm, sự quý mến, chăm sóc hay hợp tác. Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng và nhu cầu tự tôn trọng mình.
Nhu cầu tự hoàn thiện: là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc đạt được thành tích mới hay sự sáng tạo.1: Hệ thống nhu cầu của Maslow Sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân mỗi người đi từ thấp đến cao. Khi con người đạt được nhu cầu ở cấp độ thấp thì các nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Con người có xu hướng vươn tới những nhu cầu cao hơn khi những nhu cầu thấp hơn đã được thỏa mãn. Mặc dù không có nhu cầu nào được thỏa mãn một cách triệt để song khi đã được thỏa mãn thì nhu cầu đó không còn tạo ra động lực nữa.
Như vậy, muốn tạo động lực làm việc cho người lao động, nhà quản lý cần phải quan tâm đến nhu cầu của họ đang ở cấp bậc nào và vận dụng hệ thống công cụ, biện pháp tác động vào nhu cầu để khuyến khích và động viên nhân viên làm việc. [5,tr157-159] Học thuyết nhu cầu của Maslow được biết đến rộng rãi nhất trong hệ thống lý thuyết về quản trị và động viên. Qua đây nhận thấy rằng nhu cầu là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên động lực làm việc cho công chức. Để có thể tạo được động lực làm việc cho công chức, người lãnh đạo trước tiên phải nắm bắt và đáp ứng được các nhu cầu của bản thân họ đồng thời đưa ra các chính sách tạo động lực làm việc phù hợp với khả năng của tổ chức.
Thuyết Hai yếu tố của Frederick Herzberg Học thuyết Hai yếu tố của nhà tâm lý học người Mỹ Frederick Herzberg được xây dựng chủ yếu dựa trên kết quả điều tra và phân tích kết quả cuộc phỏng vấn 203 nhân viên về các yếu tố khiến cho họ được thỏa mãn, động viên và các yếu tố khiến họ bất mãn, không được động viên. Từ những thông tin thu thập được, ông cho rằng đối lập với thỏa mãn không phải là bất mãn mà là không thỏa mãn; đối lập với bất mãn không phải là thỏa mãn mà là không bất mãn. Sự thỏa mãn trong công việc và hành động bất mãn trong công việc là độc lập với nhau. Frederick Herzberg cũng đưa ra 2 nhóm gồm nhóm các yếu tố liên quan đến sự thỏa mãn công việc (yếu tố động viên) và nhóm các yếu tố liên quan đến bất mãn (yếu tố duy trì).1: Các nhóm yếu tố theo học thuyết Hai yếu tố của Frederick Herzberg Các yếu tố duy trì Các yếu tố động viên 1.
Phương pháp giám sát 1. Sự thách thức của công việc 2. Hệ thống phân phối thu nhập 2. Các cơ hội thăng tiến 3.
Quan hệ với đồng nghiệp 3. Ý nghĩa của các thành tựu 4. Điều kiện làm việc 4. Sự thừa nhận khi thực hiện các 5.
Chính sách của tổ chức công việc 6. Cuộc sống cá nhân 5. Ý nghĩa của các trách nhiệm Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thường. Khi các yếu tố này được thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên.
Nhưng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút. Tập hợp các yếu tố thứ hai là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy thật sự, liên quan đến bản chất công việc. Khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người lao động sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.
20 Như vậy theo học thuyết Hai yếu tố, những yếu tố mang lại sự hài lòng, thỏa mãn cho người lao động mới chính là yếu tố tạo động lực.