Chương 1. Giới thiệu đề tài và Cơ sở lý luận về động lực làm việc: trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, các lý thuyết sử dụng trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến động lực làm việc từ đó tác giả đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết phù hợp với tình hình thực tế của nghiên cứu. Đánh giá thực trạng về động lực làm việc của đội ngũ công chức, người lao động tại Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ: trình bày tổng quan về Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ, đưa ra các phương pháp thu thập thông tin, đánh giá thực trạng tạo động lực làm việc tại Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ. Kết luận nhằm đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục, nâng cao động lực làm việc của đội ngũ công chức, người lao động đang làm việc và công tác tại Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 3.1 Một số khái niệm chung 3.1 Khái niệm công chức, người lao động Theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức số 52/2019/QH14 của Quốc hội quy định công chức như sau: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ 6 quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Bộ Luật Lao Động 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động. Mặt khác, Bộ Luật Lao Động 2012 định nghĩa người lao động là người làm việc theo “hợp đồng lao động”. Do đó, theo Bộ Luật Lao Động 2012, một cá nhân làm việc cho công ty theo hợp đồng không có tên là “hợp đồng lao động” có thể lập luận rằng mình không phải là người lao động của công ty.
Tuy nhiên, lập luận như vậy có thể không áp dụng được theo Bộ Luật Lao Động 2019 nếu có thể xác định được rằng có sự thỏa thuận giữa công ty và cá nhân và cá nhân đó bị công ty quản lý, điều hành và giám sát. Cả hai đối tượng công chức và người lao động đều đang làm việc cho bộ máy nhà nước, được hưởng lương và các chế độ tiền lương. Tuy nhiên, hai đối tượng này có đặc thù riêng về tuyển dụng, bổ nhiệm, cụ thể: Công chức là người được tuyển, bổ nhiệm trong ngạch, chức vụ, chức danh, không có nhiệm kỳ công tác, phải tập sự trước khi nhận việc, khi vi phạm sẽ bị buộc thôi việc. Còn người lao động là người được tuyển dụng thông qua ký kết hợp đồng lao động giữa cơ quan hành chính nhà nước, dưới dạng hợp đồng lao động xác định thời hạn, không được tuyển, bổ nhiệm trong ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan quản lý nhà nước.
Đề tài nghiên cứu này chỉ được áp dụng, thực hiện tại Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ, đây là một cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, trong đề tài này sử dụng khái niệm công chức, người lao động không bao gồm viên chức, hợp đồng lao động có xác định thời hạn theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức số 52/2019/QH14 của Quốc hội.2 Một số khái niệm về động lực Theo tìm hiểu từ nhiều nguồn tài liệu thì ta có một số khái niệm về động lực như sau: Khái niệm động lực của tác giả (Maier và Lawder, 1973) được định nghĩa chính 7 là sự khao khát, tự nguyện của từng cá nhân. Còn tác giả Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đẩy từ bên trong nhằm đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn của mỗi người. Theo tác giả Kreitner (1995) thì cho rằng động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
Một khái niệm khác tìm hiểu về động lực được Greenberg và Baron (2003) đưa ra là cả quá trình phản ứng tâm lý với sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm đạt một mục tiêu nào đó. Tại Việt Nam thì tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.3 Khái niệm động lực làm việc Theo giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), động lực chính là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện thuận lợi nhằm giúp nó tạo ra kết quả cao. Hay nói cách khác động lực sẽ tự thôi thúc từ bên trong mỗi con người, thúc đẩy hoạt động của con người. Theo định nghĩ từ điển bách khoa toàn thư thì “Động lực làm việc là một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy với mục đích hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi”.
Thuật ngữ động lực làm việc hay lao động cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tác giả Robbins (1993) lại cho rằng động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện những nỗ lực ở mức độ cao nhằm hướng đến các mục tiêu của tổ chức. Theo Pinder (1998) cho rằng động lực làm việc được định nghĩa là tập hợp các nguồn lực xuất phát từ bên trong hay bên ngoài của cá nhân tạo nên, dẫn dắt và duy trì hành vi liên quan đến công việc của con người. 8 Tác giả Baron và Greenberg (2000) chia động lực thành ba phần chính. Phần thứ nhất được định hướng bởi những yếu tố kích thích có liên quan với nguồn năng lượng phía sau trong hành động của mỗi cá nhân.
Phần thứ hai đề cập đến những người lựa chọn, chỉ đạo điều hành hành vi họ thực hiện. Phần thứ ba liên quan đến việc mọi người phải mất thời gian bao nhiêu nhằm duy trì nỗ lực để đạt đến được mục tiêu xác định của mình. Từ các nghiên cứu nêu trên ta có thể tóm gọn lại khái niệm động lực làm việc như sau: động lực làm việc có các yếu tố cá nhân, xuất phát bên trong ý thức của từng người, được thúc đẩy và tác động bởi các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài theo môi trường làm việc của con người.4 Vai trò động lực làm việc Vai trò của động lực được tác giả Infinedo (2003) cho rằng khi bất kỳ một người lao động họ có động lực làm việc thì sẽ rõ ràng mà dễ dàng cảm nhận thông qua sự nhiệt tình, sự cống hiến và sự tập trung vào chính công việc của họ nhằm đóng góp vì mục tiêu chung của tổ chức. Theo đó, động lực làm việc có liên quan đến những mong muốn đạt kết quả tốt với công việc được giao.
Theo Muhammad và cộng sự (2011), Tổ chức thành công hay thất bại đều có liên quan đến động lực làm việc của nhân viên. Nhân viên có động lực làm việc cao sẽ giúp cho tổ chức cạnh tranh với đối thủ trên thị trường. Dựa trên các lý thuyết của các tác giả trên ta thấy được động lực có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định hành vi của người lao động. Họ sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện chính bản thân mình thông qua từng công việc mà họ thực hiện.
Người lao động nếu có động lực tích cực thì tâm lý làm việc tốt, lành mạnh đồng thời sẽ góp phần làm hiệu quả cho tổ chức. Vấn đề của mỗi nhà quản lý là hãy luôn tạo động lực cho nhân viên mình.5 Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Theo từ điển bách khoa định nghĩa thì sự hài lòng trong công việc chính là trạng thái cảm xúc thích thú có được từ kết quả của việc đánh giá công việc đối với một cá nhân, là phản ứng cảm xúc, thái độ với công việc. Tác giả Weiss (1967) định nghĩa hài lòng trong công việc là thái độ làm việc được thể hiện thông qua cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Do đó, sự hài lòng trong công việc là cảm giác hài lòng đối với tổ chức với các mong muốn trong quá trình làm việc (so với mức mong đợi của nhân viên, tính chất công việc, môi trường làm việc,… mà tổ chức đáp ứng, từ đó họ sẽ trung thành với cơ quan, quảng bá thương hiệu, cống hiến cho cơ quan, đơn vị).6 Vai trò của sự hài lòng trong công việc Theo quan điểm từng bản thân thì vai trò của sự hài lòng được hiểu như sau: Tận tụy, trung thành, tăng năng suất hiệu quả làm việc cá nhân, tăng năng suất làm việc của tổ chức.
Tăng động lực làm việc: Nhân viên thực sự tích cực làm việc khi họ được thỏa mãn tương đối nhu cầu của bản thân. Nếu không có sự hài lòng trong công việc , họ sẽ khó có động lực để hoàn thành công việc được giao một cách hiệu quả, có năng suất. Do đó, các nhà quản trị cần tạo sự hài lòng, giúp nhân viên có động lực làm việc, thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực của nhân viên.7 Mối quan hệ giữa động lực làm việc và sự hài lòng trong công việc Động lực làm việc và sự hài lòng trong công việc có mối quan hệ gắn bó, biện chứng tương quan nguyên nhân kết quả. Trong quá trình làm việc, mỗi người lao động đều có nhu cầu và động cơ làm việc, một khi họ cảm thấy hài lòng với công viêc họ sẽ có động lực làm việc, gắn bó lâu dài với cơ quan.
Ngược lại, nếu không còn sự hài lòng trong việc thì đồng nghĩa họ sẽ không còn động lực làm việc, thể hiện qua việc thờ ơ, lơ là trong công việc.2 Các mô hình lý thuyết tham khảo Theo tìm hiểu thì ta có một số tài liệu về lý thuyết nghiên cứu như sau: 3.1 Lý thuyết tháp Maslow (1942) Phổ biến nhất về lý thuyết động lực làm việc được nhắc đến là của Maslow (Maslow, A.