Chương 1: Những vấn đề lý luận về động lực làm việc của công chức phường; Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức phường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao động lực làm việc của công chức phường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC PHƢỜNG 1. Lý luận cơ bản về động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực làm việc Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1996: “Động lực là năng lượng làm cho máy móc chuyển động; hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [21, tr.
Vậy động cơ và động lực giống và khác nhau như thế nào? Chúng ta có thể hiểu động cơ là bộ phận quan trọng nhất trong một bộ máy giúp cho bộ máy đó chuyển động còn động lực chính là nhiên liệu giúp cho động cơ vận hành. Ví dụ, lý do mỗi người phải đến cơ quan làm là hàng tháng bạn cần có một số tiền để tiêu vào một việc gì đó; thì “cần có một số tiền” chính là động cơ, còn “tiêu vào một việc gì đó” chính là động lực. Theo Maier và Lawler (1973) [8, tr. 89]: “ Động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân”, họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Theo Tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [7, tr.
Như vậy, có thể hiểu động lực làm việc như sau: - Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức; - Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức, điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động 9 đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể; - Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ; - Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất; - Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc. Trong thực tiễn, người lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc; thế nhưng chúng ta không thấy rằng sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với DN là không nhiều. Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tụy cho DN và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của DN.
Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Động lực làm việc không tự nhiên xuất hiện mà là sự kết hợp đồng thời của các nguồn lực chủ quan thuộc về phía bản thân người lao động và nguồn lực khách quan thuộc về môi trường sống và làm việc của người lao động. Động lực làm việc là trạng thái bên trong của con người được biểu hiện qua thái độ, hành vi, sự nhiệt tình và nỗ lực làm việc, hoặc cũng được thể hiện qua ước muốn về nhu cầu về vật chất và tinh thần của họ, nó góp phần thúc đẩy nhiều hoặc ít đối với tiến độ và chất lượng các công việc thuộc nhiệm vụ của bản thân từng 10 người hướng theo mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức và trách nhiệm của một cá nhân cụ thể.
Không có động lực chung chung, mà với mỗi cá nhân khác nhau, ở vị trí, điều kiện công việc khác nhau thì thái độ, hành vi, mức độ nhiệt tình, hăng hái khác nhau và bản thân mỗi người lao động sẽ có những nỗ lực làm việc khác nhau. Động lực làm việc mang tính tự nguyện. Bản chất của con người là thích chủ động, khi công việc mang lại hứng thú, phù hợp sở thích hoặc khi họ thấy thoải mái thì sẽ nỗ lực làm việc hơn. Động lực làm việc có thể thay đổi, vai trò của người quản lý chính là có những cách thức tác động tới người lao động để duy trì động lực làm việc một cách ổn định, bền vững và trong khuân khổ, tăng cường tính tự nguyện của người lao động.
Tóm lại, động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến họ tự nguyện nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức. Vai trò của động lực làm việc - Động lực làm việc là nhân tố quan trọng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất có hiệu quả, động lực làm việc giống như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn, nỗ lực hơn. Động lực giúp con người vượt qua khó khăn, trở ngại trong công việc; - Động lực làm việc đóng vai trò thúc đẩy sự nỗ lực, góp phần vào việc ra đời những sáng kiến, tìm ra nhiều biện pháp tốt hơn, phù hợp hơn trong việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức, giúp vận hành liên tục, đảm bảo việc thực hiện những nhiệm vụ được phân công, giúp chính sách của Nhà nước được thực thi kịp thời, nhanh chóng; - Cá nhân có động lực làm việc sẽ giúp tổ chức củng cố và duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao, bản thân người đó hoàn thiện hơn về chuyên môn, kỹ năng làm việc và mức độ, thời gian hoàn thành tốt công việc hơn, ngắn hơn; từ đó cá 11 nhân được các thành viên của tổ chức coi trọng và cảm thấy hài lòng với tổ chức, có nguyện vọng gắn bó với tổ chức nơi mình làm việc lâu dài; - Nếu thiếu động lực làm việc, con người dễ phát sinh chán nản, ngại khó, làm việc cầm chừng, lấy lệ, dễ rơi vào tình trạng đùn đẩy, thiếu trách nhiệm và từ đó đưa đến hiệu quả và chất lượng công việc thấp. Từ thiếu động lực làm việc mà con người trở nên lười biếng, tiêu cực, ỷ lại, thậm chí họ tìm cách rời xa tổ chức, không muốn tiếp tục làm việc như trước nữa.
Từ đó đưa đến thiệt hại cả cho tổ chức và cả cho cá nhân người lao động. Các học thuyết liên quan đến động lực làm việc của người lao động 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Maslow Abraham Harold Maslow (1908-1970), cho rằng [9, tr. 363-365]: Con người có rất nhiều nhu cầu.
Căn cứ theo mức độ đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh của chúng để quy về 5 loại sắp xếp theo thang bậc từ thấp đến cao. Thường thì nhu cầu bậc thấp phải được đáp ứng trước rồi đến nhu cầu bậc cao hơn. - Tầng thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc "thể lý" hay “sinh lý” - như thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.; - Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn, an ninh - cảm giác yên tâm về an toàn thân thế, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo; - Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao tiếp xã hội- nhu cầu muốn thuộc về một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy; - Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến - là nhu cầu cần được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng; - Tầng thứ năm: Nhu cầu tự khẳng định bản thân - là nhu cầu muốn sáng tạo, được thể hiện những khả năng của bản thân, được tự hoàn thiện mình.1: Tháp nhu cầu của Maslow Các cấp độ của nhu cầu Nhu cầu tự khẳng định, sáng tạo Nhu cầu đƣợc tôn trọng (Địa vị, được công nhận) Nhu cầu xã hội (Được chia sẻ, giao lưu, yêu thương) Nhu cầu an toàn (Muốn được bảo vệ, được yên ổn…) Nhu cầu sinh lý (Giải quyết nhu cầu sinh học, cơ bản: ăn uống, tồn tại, đi lại…) (Nguồn: [9, tr. 364]) Maslow cũng chia 5 tầng nhu cầu thành 2 cấp bậc: Bậc thấp và bậc cao.
- Nhu cầu bậc thấp: Được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài, bao gồm: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn/an ninh; - Nhu cầu bậc cao: Được thỏa mãn chủ yếu từ nội tại con người, gồm: Nhu cầu giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu khẳng định bản thân. Thuyết nhu cầu của Maslow được thể hiện ở hình minh họa như sau: - Nhu cầu được tự khẳng định (tự thể hiện bán thân, được thể hiện khả năng, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt); - Nhu cầu được tôn trọng (có cảm giác được tôn trọng, được tin tưởng); - Nhu cầu được công nhận (được tin cậy, được thuộc một tổ chức nào đó); - Nhu cầu an toàn (Có việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản); - Nhu cầu sinh lý (Dạng nhu cầu cơ bản).