Chương I: Cơ sở lý luận về tạo động lực thúc đầy người lao động Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực thúc đây cán bộ, công chức, viên chức tại trường đại học Quảng Nam thời gian qua Chương 3: Một số giải pháp tạo động lực thúc đẩy cán bộ, công chức, viên chức tại trường đại học Quảng Nam thời gian tới 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có nhiều cách tiếp cận về động cơ thúc đây: ~ Các lý thuyết về nội dung của động cơ thúc đây (lý thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow, thuyết ERG của Aldefer, thuyết 2 nhân tố cia Herzberg, thuyết thúc đẩy nhu cầu của MC Clelland) nhấn mạnh đến nhu cầu như là nguồn gốc tạo ra ĐLTĐ con người. Những nhu cầu này đã trở thành động lực bên trong thúc đây nỗ lực hành động theo hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu. Từ việc hiểu biết nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị sẽ xây dựng giải pháp nâng.
cao động lực thúc đẩy để thỏa mãn nhu cầu của họ qua đó hướng sự nỗ lực của họ đến việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.203] - Các lý thuyết về nội dung của động cơ thúc đây lý giải những nhu cầu làm phát sinh động cơ nhưng đều không giải thích thỏa đáng rằng tại sao con người lại có nhiều cách khác nhau dé thỏa mãn các nhu cầu và đạt đến các mục tiêu của họ. Các thuyết tiến trình giải thích làm thế nào nhân viên lựa chọn các hành vi để đáp ứng nhu cầu của họ và xác định liệu những lựa chọn của họ thành công hay không. Có hai thuyết tiến trình cơ bản: thuyết công bằng của Stacy Adams, thuyết kỳ vọng: thuyết kỳ vọng của Victor Vroom và mô hình về sự kỳ vọng của Porter — Lawler. 210] Đã có nhiề công trình nghiên cứu, luận văn cao học đề cập đến é nay: 1.
Với tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức, vì vậy cần tạo động lực làm việc cho người lao động để họ nỗ lực, hợp tác và gắn bó lâu dài với tổ chức. Có nhiều cách thức đẻ nâng cao. động lực thúc đây người lao động. Bằng yếu tố vật chất như làm tốt công tác trả lương cho người lao động, thực hiện tốt chế độ thưởng, các khoản phụ cấp, các khoản phúc lợi xã hội.
Và bằng yếu tố tỉnh than: cải thiện điều kiện làm. việc, sự thăng tiến hợp lý, thay đổi vị trí làm việc. Đây là những van dé đã được ThS. Trong “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguôn nhân lực” in trong tạp chí Khoa học và công nghệ, DH Đà Nẵng số 5(40).2010 của PGS T§ Võ Xuân Tiến thì động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo di mục tiêu của tô chức để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân Trong các cơ quan vốn đã có một đội ngũ lao động thì việc thiết kế công việc, bố trí đúng người, đúng việc là đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối với các nhà quản lý.
Thứ hai, chế độ đãi ngộ, khen thưởng. Thứ ba, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý. Tac gia Dimitris Manolopous (2008) trong “An evaluation of employee motivation in the extended public sector in Greece, Emloyee Relations, Vol.30” cho rằng yếu tô hiệu suất tổ chức trong khu vực công mở rộng được cho là có quan hệ với động lực làm việc. Phần thưởng nội tại có liên quan đến kết quả tổ chức hơn phần thưởng bên ngoài.
Cả hai yếu tố khả năng của cá nhân và đặc điểm nhân khẩu học là yếu tố quyết định cót lõi đến động cơ thúc đẩy nhân viên. “Trong các cơ sở sản xuất kinh doanh: 4. Luận văn “Nâng cao động lực thúc đẩy người lao động tại Công ty cổ phân công nghệ phần mêm Đà Nẵng” của tác giả Thân Trọng Trần Thi (2012), Đại học Đà Nẵng. Luận văn cho thấy công ty đã chú ý đến việc nâng.
cao động lực thúc đây NLĐ bằng các yếu tố tiền lương, tinh thần, thăng tiến, điều kiện làm việc, VHDN và chính sách đào tạo. Tuy nhiên, vẫn còn tổn tại một số bắt cập đó là cơ cấu tiền lương chưa hợp lý, điều kiện làm việc còn hạn chế, công tác thăng tiến tại công ty chưa phù hợp, chưa có chính sách ưu tiên cho những người sau đảo tạo. Qua luận văn “Nng cao động lực thúc đẩy người lao động tại Ngân hàng thương mại cổ phân Nam Việt chỉ nhánh Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Đức Hạnh (2013), Đại học Đà Nẵng cho thấy ngân hàng đã quan tâm đến việc sử dụng các công cụ để nâng cao động lực thúc đây NLĐ như tiền lương, chính sách thi đua khen thưởng, các hoạt động tỉnh thần, đánh giá thành tích, đào tạo và xây dựng VHDN. Tác giả đã có một số kết luận: hoạt động nâng cao động lực thúc đây liên quan chặt chẽ với mục tiêu chiến lược của các công ty, cần có sự quan tâm thích đáng cho công tác nâng cao động lực thúc day NLĐ để có nguồn nhân lực chất lượng phù hợp với định hướng công ty.
Trong các cơ sở đào tạo: 6. Luận văn “Giải pháp nâng cao động lực thúc đẩy cán bộ công nhân viên chức trường Đại học Quy Nhơn” của tác giả Phạm Nguyễn Thị Hoàng Hoa (2012), Đại học Đà Nẵng. Tác giả nhấn mạnh việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp tạo ra và nâng cao động lực thúc đây làm việc cho CB, GV là việc làm vì sự phát triển của nhà trường và NLĐ. Tạo điều kiện cho CB, GV hăng hái lao động.
Sử dụng tốt các yếu tố kích thích lao động bằng tinh thần như phát huy văn hóa trường học, đề cao vai trò vị trí của nhà giáo, tăng cường sự quan tâm động viên của lãnh đạo, sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể trong. nhà trường để khai thác mọi năng trong cán bộ nhân viên vì lợi ích lâu dài của cá nhân và nhà trường. Với trường Đại học Quảng Nam là một cơ sở đảo tạo và có nét đặc trưng riêng của trường thì việc tìm hiểu và thực hiện đề tài “Tạo động lực thúc đây cho cán bộ công chức, viên chức trường Đại học Quảng Nam” giúp tổ chức có cái nhìn tổng quan hơn đề có để thỏa mãn nhu cầu của CB, GV nhà trường nhằm phát huy hết m năng NLĐ hướng tới việc đạt được mục tiêu tô chức. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐÂY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.
KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐÂY VÀ TẠO ĐỘNG LỰC THUC DAY NGƯỜI LAO DONG 1. Một số khái niệm cơ bản a. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thẻ lực và trí lực [11]. Hà Văn Hội: “Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp” [6, tr. Theo tác giả thì: Nhân lực là nguôn lực của mỗi con người, bao gôm thể lực, trí lực và nhân cách của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nguôn nhân lực Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động. Ở đây nguồn nhân lực được xem xét ở trạng.
[11] Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tông thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.” [5] Tuy nhiên, theo PGS. Võ Xuân Tiến, cần phải hiểu: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. ”[1§] Tác giả đồng ý với nhận định này. Nhu cầu của người lao động “Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người vật chất tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn.117] Nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện.
Hình thức biểu hiện nhất định của nhu cầu được cụ thể hoá thành đối tượng nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thê làm thoả mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thoả mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thê được thoả mãn bởi một số đối tượng với mức độ thoả mãn khác nhau. Hiểu được nhu cầu của người lao động là nhân tố quan trọng giúp cho tổ chức có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của người lao động.
Một khi nhu cầu của người lao động được thoả mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với tô chức. Động lực thúc đẩy người lao động Động lực là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tô chức [1, tr134] Động lực thúc đẩy người lao động là cái thúc đây, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Động lực được hình thành bởi nhu cầu và lợi ích. Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển.
Lợi ích là những nhu cầu được thoả mãn. [9] Tác giả đồng ý với nhận định: “Động lực thúc đầy người lao động là cái thúc đây, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Tạo động lực thúc đẩy người lao động Theo TS. Bùi Anh Tuan: “Tao động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong lao động.” [14] Vậy: Tạo động lực thúc đây người lao động là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ và thủ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm thúc đấy họ phắn khởi, hăng say, tự nguyện hơn khi làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức và người lao động một cách có hiệu quả.