CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NÔNG HỘ VÀ SINH KÉ NÔNG HỘ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Tài liệu nghiên cứu di trước Ngô Thế Ân, Nguyễn Thị Bích Hà ( 2014 ), “ Mối liên hệ giữa sinh kế của người dân và nguồn carbon dự trữ trong thảm rừng ” đánh giá mối liên hệ giữa nguôn dự trữ carbon (C) và sinh kế của cộng đồng dân cư. Kết quả phân tích dựa trên 100 nông hộ được khảo sát và cuộc thảo luận tại hai khu vực thuộc huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An đã cho thấy van dé sinh kế của người dân ở khu vực nghiên cứu gặp nhiều khó khăn.
Về hình thức sử dụng đất hiện tại ở khu vực này, đất có dự trữ carbon thấp thường sẽ mang lại lợi nhuận inh tẾ cao. Ngược lại, đất rừng già có nồng độ carbon cao, nhưng nhìn chung thu nhập của người dân từ khu vực này lại không đủ cho cuộc sống. Chính sách liên quan đến quản lý đất đai, bảo vệ rừng, phát triển trồng rừng và dự trữ carbon đã có tác động đến sinh kế của người dân. Làm việc chặt chẽ bảo vệ rừng, nguồn thu nhập từ nông nghiệp tại cả hai vùng bị giảm đáng kể.
Ngoài ra, các chính sách này bao gồm hỗ trợ tài chính cho việc trồng rừng, nhưng tình hình kinh tế khó khăn, chỉ một số ít hộ gia đình có khả năng tham gia vào việc phát triển trồng rừng trên đất của họ. Hiệu qua của đa dang hóa nguồn thu nhập bằng công việc thực hiện mô hình trồng rừng xen canh sắn, cây ăn quả và bảo vệ nguồn gốc rừng đã được chứng minh là có tác động tích cực nhăm tăng cường dự trữ carbon và thu nhập cho các hộ gia đình nghèo, nhưng điều này chỉ khả thi khi có sự hồ trợ tài chính. Hoàng Thị Hồng Quế, Lê Thị Hoa Sen, Trần Nam Thắng ( 2020 ), “ Đa dạng sinh kế và thu nhập của nông hộ vùng trồng Keo ở miễn núi tỉnh Thừa Thiên Huế ” chỉ ra rằng sự đa dạng sinh kế đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu sự dễ bị tốn thương của nông hộ trước những biến đổi đột ngột. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu cách xác định mức độ đa dạng của sinh kế, xác định xu hướng đa dạng hóa sinh kế nông hộ và cơ cấu sinh kế với nguồn thu của các hộ gia đình trong khu vực sản xuất Keo rừng tại miền núi Thừa Thiên Huế, nơi nông hộ chuyên trồng Keo.
Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã tiến hành phỏng vấn 30 người có kiến thức sâu về vùng này cùng với 180 hộ gia đình ở khu vực miền núi, sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Dữ liệu chính được thu thập thông qua các bảng câu hỏi bán cau trúc cùng với đó là kết hợp với cuộc phỏng vấn chỉ tiết. Dữ liệu sau đó được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích phương sai. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn từ 2011 đến 2018, xu hướng đa dạng hóa hoạt động sinh kế của các nông hộ không phải là tăng cường thêm các hoạt động sinh kế mới ma thay vào đó, họ đã thay đổi về cơ cấu các hoạt động mang lại nguồn thu nhập.
Những thay đổi này đã ảnh hưởng tích cực đến thu nhập và cơ cau thu nhập sinh kế của các hộ gia đình. Cơ cau thu nhập sinh kế của nông hộ đã thay đổi theo xu hướng tăng hoặc giảm tùy thuộc vào công việc thay đôi hoạt động của sinh kế. Sự thay đổi trong hoạt động sinh kế đã dẫn đến sự tăng trưởng tông thu nhập và thu nhập trung bình của mỗi người trong hộ gia đình nông dân, nhưng sự gia tăng này khác nhau đối với các nhóm dân tộc khác nhau và giữa các hộ gia đình trồng Keo. Điều khác biệt là thu nhập giữa dân tộc Kinh và dân tộc Cơ Tu là rất lớn, tốc độ thu nhập của nhóm dân tộc Cơ Tu vẫn còn rat thấp.
Dương Viết Tân, Trương Văn Tuyển, Nguyễn Quang Tân ( 2020 ), “ Thay đổi nguồn vốn sinh kế của nông hộ trong bối cảnh hạn chế tiếp cận tai nguyên rừng ở vùng núi tỉnh Thừa Thiên Huế ”, nghiên cứu này được tiến hành tại xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế, các tác giả thu thập dữ liệu từ 60 hộ gia đình. Xuân Lộc là nơi cư trú của cả cộng đồng người Kinh và người Vân Kiêu, với sinh kê chủ yêu dựa vảo tài nguyên rừng và các hoạt động nông nghiệp quy mô nhỏ. Bài nghiên cứu nhắm mục tiêu tìm hiểu sự biến đổi trong nguồn vốn sinh kế giữa hai nhóm hộ dân tộc là nhóm người Kinh và nhóm người Vân Kiều trong bối cảnh việc tiếp cận tài nguyên rừng bị hạn chế gay gắt và từ đó xác định được từng nhóm nông hộ có chiến lược sinh kế ưu tiên là gì. Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy một số điểm quan trọng.
Thứ nhất, nhóm hộ người Kinh có điều kiện tốt hon dé bổ sung các nguồn sinh kế, dẫn đến một sự đa dạng hơn trong cách họ kiếm sống với nhóm hộ người Vân Kiều. Thứ hai, cả hai nhóm hộ đã thay đổi từ công việc sản xuất nông nghiệp truyền thống sang trồng rừng Keo. Cuối cùng, chiến lược ưu tiên của nhóm hộ người Kinh tập trung vào trồng rừng Keo và sản xuất sản phẩm Keo, trong khi đồng bào Vân Kiều chọn trồng Keo và chăn nuôi. Dựa trên những kết quả này, cần có các chính sách và công cụ hướng dẫn cụ thé từ các cấp chính quyền địa phương dé hỗ trợ cả cộng đồng trong công việc tiếp theo và phát triển các hoạt động sinh kế hướng tới sự bền vững, đặc biệt là với đồng bào Vân Kiều, một dân tộc thiêu số còn nhiều mặt cần cải thiện.
Nguyễn Tài Phúc, Trần Minh Trí, Võ Vân Sơn ( 2012 ), “ Trồng rừng sản xuất quy mô hộ ở huyện Nam Đông, mô hình hiệu quả và tiềm năng ” đã chỉ ra rằng hoạt động trồng rừng tại Nam Đông đã được hoàn thiện, tuy nhiên, hiệu suất chưa thể tương xứng với tiềm năng của nó. Loài cây chủ yêu được sử dung là cây Keo tai tượng. Tuy nhiên, nếu sử dụng giống cây Keo lai sẽ mang lại hiệu quả gap 1,19 lần về mặt tài chính. Kết quả và hiệu suất của hoạt động trồng rừng ở đây vẫn chưa cao, đặc biệt là đối với các nhóm hộ có số dân tộc thiểu số.
Ví dụ, giá trị hiện tại ròng mỗi ha ở các hộ dân tộc Kinh là 7,1 triệu đồng, trong khi ở các dân tộc thiểu số là 5,2 triệu đồng. Các yếu tố liên quan đến quy hoạch, kỹ thuật trồng, việc lựa chọn tương tự cây và thị trường tiêu thụ đều có tác động đáng kê đến hiệu suất của hoạt động trồng rừng sản xuất. Vì vậy, cần phải thiết kế thực hiện một loạt giải pháp kinh tế và kỹ thuật dé khai thác hết tiêm năng và nâng cao hiệu suât của hoạt động trông rừng sản xuât tại huyện Nam Đông. Nguyễn Mạnh Dũng, Nguyễn Anh Tuấn, Đỗ Hoàng Phương, Tô Thế Nguyên đã thực hiện một nghiên cứu về sinh kế tại huyện Xin Man, tinh Hà Giang.
Nhóm tác giả đã thực hiện một cuộc khảo sát trên 300 nông hộ và sử dụng mô hình probit đa biến để đánh giá các lựa chọn chiến lược sinh kế của cộng đồng nông hộ ở huyện Xin Man, tinh Ha Giang. Quy mô đất đai sản xuất của nông hộ đã có những tác dụng đáng ké trong kế hoạch chiến lược sinh kế, đặc biệt là trong đa dạng hóa cây trồng, đa dang hóa vật nuôi và chế biến nông sản. Các hộ sở hữu tích đất trồng lớn hơn thường có xu hướng đầu tư một lượng đáng ké hơn về sản xuất mục tiêu tối ưu hóa thu nhập. Ngược lại, những người sở hữu nhiều tài sản như máy móc, thiết bị sản xuất thường lựa chọn các chiến lược phi nông nghiệp, cũng như đa dạng hóa cây trồng và chế độ nông sản.
Yếu tố liên quan đến lương thực và thực phâm đóng một vai trò quan trọng, có tác động tích cực đối với các hoạt động sinh kế như đa dạng hóa cây trồng và đa dạng hóa vật nuôi của các hộ nông dân. Đặc biệt, chủ sở hữu trình độ học van cao thường có xu hướng lựa chon các loại hoạt động như chế độ nông sản và kinh doanh, buôn bán nhỏ dé tối ưu hóa nguồn thu nhập. Zerihun Nigussiea, Atsushi Tsunekawaa, Nigussie Haregeweynb, Mitsuru Tsuboa, Enyew Adgoc, Zemen Ayalew, Steffen Abeled ( 2021 ), “ The impacts of Acacia decurrens plantations on livelihoods in rural Ethiopia ”, nghiên cứu kiểm tra nhận thức của người dân dia phương về tac động của việc trồng rừng quy mô nhỏ, đặc biệt là trồng cây Keo đen ở lưu vực sông Nile xanh phía trên của Ethiopia. Trọng tâm đặc biệt trong nghiên cứu là về các khía cạnh khác nhau của sự bền vững sinh kế, tập trung vào vốn kinh tế, xã hội, con người, vật chất và tự nhiên.
Việc mở rộng diện tích trồng cây quy mô nhỏ trên đất nông nghiệp bị thoái hóa là do nỗ lực của nông dân nhăm khắc phục các van đề về thu nhập bị hạn chế và suy thoái đất. Tuy nhiên, những điều nảy có thể có những tác động khác nhau trong việc duy trì tính bền vững của môi trường tự nhiên và sinh kế ở nông thôn. Các cuộc phỏng van được thực hiện với nông dân cho thấy hệ thống đồn điền đã mang lại nhiều lợi ích như tăng thu nhập, cung cấp việc làm và cải thiện đời sống xã hội cho họ. Các đồn điền cũng đã cải thiện đáng ké tình trạng đất bị thoái hóa, từ đó làm tăng vốn tự nhiên.
Tuy nhiên, những rủi ro liên quan cũng được phát hiện liên quan đến giá lương thực tăng cao do chuyên đồi từ cây hang năm sang cây lâu năm và sự bat bình đăng ngày càng tăng, với những hộ nông dân nhỏ hoặc những người có nguồn tài chính hạn chế có ít lựa chọn hơn dé đầu tư vào đồn điền. Cần phải cải thiện cơ sở hạ tầng và tiếp cận thị trường để giúp cân bằng an ninh lương thực và hệ thống trồng trọt thông qua các thị trường và hệ thống tài chính hoạt động cho phép nông dân nghèo tham gia vào hoạt động kinh doanh này. Những phát hiện này cung cấp những hiểu biết quan trọng cho nghiên cứu và chính sách nhằm duy trì hệ thống trồng rừng , sử dụng đất và sinh kế ở nông thôn của nông dân quy mô nhỏ.