Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, kinh tế lâm nghiệp ngày càng khẳng định vai trò là nguồn sinh kế quan trọng cho nông hộ vùng trung du và miền núi. Tại Việt Nam, nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến trong nước và xuất khẩu liên tục gia tăng, trong khi các chính sách đóng cửa rừng tự nhiên của Chính phủ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải mở rộng nguồn cung từ rừng trồng sản xuất. Giống cây Keo lai (Acacia hybrid) đã trở thành loài cây trồng lâm nghiệp chủ lực trên cả nước với diện tích vượt mốc 517.000 ha, đạt năng suất bình quân từ 150 đến 200 m³/ha sau chu kỳ 6–8 năm, thậm chí đạt trên 250 m³/ha ở một số lập địa thuận lợi.

Tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Phú Lộc nói riêng là địa bàn có nhiều lợi thế phát triển rừng trồng kinh tế. Huyện Phú Lộc là địa phương đầu tiên của tỉnh áp dụng mô hình trồng Keo lai, sở hữu tỷ lệ nông hộ tham gia cao cùng bề dày kinh nghiệm sản xuất. Mặc dù hoạt động trồng và kinh doanh Keo lai đã góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương, thực tiễn quản lý đất đai và chuỗi sản xuất vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là tình trạng bất bình đẳng thu nhập ngày càng gia tăng giữa các nhóm hộ. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tập trung nghiên cứu đề tài: "Đóng góp của hoạt động trồng và kinh doanh gỗ Keo lai tới kinh tế nông hộ tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế".

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng đóng góp kinh tế của hoạt động trồng và kinh doanh gỗ Keo lai đối với sinh kế nông hộ tại huyện Phú Lộc, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững cho người dân. Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan và cơ sở lý luận về nông hộ, kinh tế nông hộ và sinh kế nông hộ.
  2. Đánh giá thực trạng đóng góp của việc trồng và kinh doanh gỗ Keo lai tới sinh kế của nông hộ tại địa bàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng, kinh doanh gỗ Keo lai cho các nông hộ tại huyện Phú Lộc và các địa bàn có điều kiện tương đồng.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của hoạt động trồng và kinh doanh gỗ Keo lai tới sinh kế của nông hộ.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (khảo sát trực tiếp tại 3 xã: Lộc Bổn, Lộc Hòa, Lộc Tiến).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2023; số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát thực địa từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên hai nhóm lý thuyết trọng tâm: lý luận về kinh tế nông hộ và khung sinh kế bền vững:

  • Lý luận về nông hộ và kinh tế nông hộ: Đề tài tiếp cận khái niệm nông hộ theo phân loại 4 cấp độ trong nền kinh tế thị trường (gồm hộ tự cung cấp hoàn toàn, hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, hộ sản xuất hàng hóa chủ yếu, và hộ sản xuất hàng hóa hoàn toàn/trang trại). Đồng thời, tác giả vận dụng các luận điểm của A.V. Chayanov về bản chất kinh tế gia đình nông dân (tổ chức sản xuất phụ thuộc vào quy mô, cấu trúc gia đình, nhu cầu tiêu dùng và lực lượng lao động tự có mà không thuần túy tối đa hóa lợi nhuận tư bản) và phân tích của Lê Thị Ánh Tuyết về vai trò trung tâm của tư liệu ruộng đất đối với kinh tế hộ.
  • Khung sinh kế bền vững (DFID, Ellis 1998, Chambers & Conway 1992): Nghiên cứu phân tích sinh kế dựa trên tập hợp 5 nguồn vốn sinh kế cơ bản của hộ: vốn con người (học vấn, độ tuổi, kinh nghiệm), vốn tự nhiên (diện tích đất đai, đất rừng), vốn vật chất (công cụ, hạ tầng giao thông), vốn tài chính (thu nhập, tiếp cận tín dụng) và vốn xã hội (mạng lưới thương lái, liên kết cộng đồng).
  • Tổng quan nghiên cứu kế thừa: Tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong nước (Ngô Thế Ân và Nguyễn Thị Bích Hà, 2014; Hoàng Thị Hồng Quế và cs., 2020; Dương Viết Tân và cs., 2020; Nguyễn Tài Phúc và cs., 2012; Nguyễn Mạnh Dũng và cs.) cùng các nghiên cứu quốc tế (Zerihun Nigussie et al., 2021 tại Ethiopia; AA Senchi & AG Bello, 2017 tại Nigeria; Penjani Kamanga & Paul Vedeld, 2009 tại Malawi). Từ đó, đề tài xác định khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm định lượng về mức độ phụ thuộc sinh kế và sự tác động của thu nhập lâm sản tới bất bình đẳng thu nhập tại cấp huyện.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Áp dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) với dung lượng mẫu $n = 150$ nông hộ trồng Keo lai. Quá trình chọn mẫu trải qua hai bước: lựa chọn 3 xã đại diện theo khoảng cách địa lý và quy mô rừng trồng (xã Lộc Bổn, Lộc Hòa, Lộc Tiến), sau đó tại mỗi xã chọn 3 thôn có diện tích trồng Keo lai tập trung. Phân loại nhóm hộ dựa theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo đa chiều. Do địa bàn không ghi nhận hộ thuộc nhóm giàu tham gia trồng Keo lai, mẫu điều tra được chia thành 4 nhóm: Thấp nhất (nghèo), Thấp (cận nghèo), Trung bình và Khá.
  • Phương pháp hạch toán thu nhập: Sử dụng khung hạch toán kinh tế hộ của Vedeld et al., thu nhập ròng từ các hoạt động sinh kế được xác định bằng tổng doanh thu (tiền mặt bán sản phẩm và giá trị quy đổi sản phẩm tự tiêu dùng) trừ đi toàn bộ chi phí trung gian phát sinh (cây giống, phân bón, vận chuyển...), không tính chi phí cơ hội của lao động gia đình.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện thống kê mô tả, phân tích tương quan Pearson, phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) nhằm kiểm định sai biệt giữa các nhóm thu nhập. Mức độ bất bình đẳng thu nhập được lượng hóa thông qua hệ số Gini và đường cong Lorenz mô phỏng hai kịch bản: có thu nhập từ Keo lai và không có thu nhập từ Keo lai.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo thống kê của UBND huyện Phú Lộc, các văn bản chính sách giao đất lâm nghiệp (FLA). Số liệu sơ cấp trích xuất trực tiếp từ 150 phiếu điều tra bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về nông hộ và sinh kế nông hộ

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở học thuật về hộ nông dân và sinh kế nông thôn. Tác giả tổng kết các công trình nghiên cứu đi trước về kinh tế rừng, chỉ ra rằng việc hạn chế tiếp cận rừng tự nhiên buộc người dân chuyển dịch mạnh sang trồng rừng sản xuất quy mô nhỏ. Đồng thời, chương 1 phân tích các đặc trưng cốt lõi của kinh tế nông hộ: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, dựa vào lao động gia đình, chịu tác động sâu sắc bởi điều kiện tự nhiên và sự biến động thị trường. Tác giả làm rõ nội dung 5 nguồn vốn sinh kế theo khung DFID và các yếu tố quyết định lựa chọn chiến lược sinh kế (giới tính, đất đai, vốn đầu tư, trình độ học vấn). Khoảng trống nghiên cứu được xác định rõ là sự thiếu vắng các đánh giá định lượng chuyên sâu về mức độ đóng góp kinh tế của cây Keo lai đối với phân hóa giàu nghèo ở quy mô nông hộ tại vùng duyên hải miền Trung.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu thực địa và các công cụ phân tích định lượng. Tác giả lập bảng thông tin tổng hợp vị trí địa lý của 3 xã khảo sát nhằm làm rõ tính đại diện của mẫu nghiên cứu:

Xã khảo sát Khoảng cách tới trung tâm tỉnh (km) Khoảng cách tới Quốc lộ 1A (km) Vùng sâu vùng xa
Lộc Bổn 21,2 4,5 Không
Lộc Hòa 35,0 8,5 Không
Lộc Tiến 50,2 2,3 Không

Bảng hỏi điều tra được cấu trúc thành 4 phần: đặc điểm nhân khẩu - xã hội của hộ; quản lý và chăm sóc rừng Keo lai; thương mại hóa và tiếp cận thị trường; chính sách hỗ trợ và liên kết chuỗi giá trị. Phương pháp hạch toán kinh tế của Vedeld et al. cùng các kiểm định ANOVA, tương quan Pearson và mô hình hóa đường cong Lorenz được thiết lập làm chuẩn mực đo lường cho toàn bộ các phát hiện ở chương tiếp theo.

Chương 3: Đóng góp của hoạt động trồng và khai thác gỗ Keo lai tới phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm từ mẫu điều tra 150 hộ gia đình. Các phát hiện trọng tâm gồm:

  • Đặc điểm nông hộ: Tuổi trung bình của chủ hộ là 60,3 tuổi (độ lệch chuẩn 11,8); số nhân khẩu bình quân là 4,3 người/hộ; trình độ học vấn bình quân đạt 6 năm đến trường (trong đó 43% chủ hộ chỉ học hết cấp tiểu học). Nông hộ có thâm niên trồng Keo lai cao, trung bình 16,3 năm kinh nghiệm, với 50% số hộ có thâm niên trên 15 năm.
  • Tiếp cận nguồn lực đất đai: Tổng diện tích đất sở hữu trung bình của hộ là 4,0 ha, trong đó đất trồng Keo lai chiếm trung bình 3,4 ha (tương đương 85% tổng quỹ đất). Nguồn gốc đất trồng Keo hình thành chủ yếu từ: Nhà nước giao đất lâm nghiệp (FLA) từ đầu thập niên 1990 với sự hỗ trợ của FAO (92 hộ); đất tự khai hoang (54 hộ); chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp (17 hộ); và các nguồn khác (18 hộ). Đất trồng Keo lai có sự phân hóa rõ nét theo nhóm kinh tế: nhóm Thấp nhất chỉ có 0,6 ha; nhóm Thấp có 0,8 ha; nhóm Trung bình đạt 2,1 ha; trong khi nhóm Khá nắm giữ tới 9,7 ha ($F = 37,773$). Tương quan giữa diện tích Keo lai và tổng diện tích đất đai đạt $R^2 = 0,988$ ($P = 0,000$).
  • Động cơ tham gia: 87% số hộ (130 hộ) lựa chọn trồng Keo lai vì hiệu quả kinh tế cao và khả năng thu tiền mặt sớm; hơn 70% (108 hộ) khẳng định giống cây này phù hợp với đất đai xói mòn, nhiều đá; 114 hộ đánh giá quy trình kỹ thuật đơn giản; 104 hộ đánh giá thị trường tiêu thụ sẵn có.
  • Đóng góp kinh tế và cơ cấu thu nhập: Tổng thu nhập bình quân của nông hộ đạt 128.608.000 VNĐ/năm (thu nhập bình quân đầu người đạt 29.120.000 VNĐ/năm). Thu nhập từ gỗ Keo lai đạt bình quân 72.189.000 VNĐ/năm/hộ, chiếm 56,47% tổng thu nhập gia đình và chiếm tới 95,5% tổng thu nhập từ nguồn tài nguyên rừng (tổng thu nhập ngành rừng chiếm 59% tổng thu nhập hộ). Mối tương quan giữa thu nhập Keo lai và tổng thu nhập hộ đạt mức rất cao ($R^2 = 0,965; P = 0,000$).
  • Phân phối thu nhập và bất bình đẳng: Thu nhập tuyệt đối từ gỗ Keo lai chênh lệch lớn giữa các nhóm hộ, dao động từ 9.260.000 VNĐ/hộ/năm (nhóm thấp nhất) lên đến 232.800.000 VNĐ/hộ/năm (nhóm khá) ($F = 21,546; p = 0,000$). Năng suất rừng trồng đạt từ 16.580.000 đến 24.240.000 VNĐ/ha/năm. Các hộ khá có mức độ phụ thuộc tương đối vào Keo lai cao hơn các hộ nghèo ($F = 45,01; p = 0,000$). Đáng chú ý, phân tích hệ số Gini chỉ ra rằng: khi không tính thu nhập từ Keo lai, hệ số Gini của địa bàn là 0,13 (bất bình đẳng rất thấp); nhưng khi tính cả thu nhập từ Keo lai, hệ số Gini tăng vọt lên 0,39 (gia tăng bất bình đẳng thu nhập đáng kể).

Chương 4: Giải pháp nâng cao đóng góp của hoạt động trồng và kinh doanh gỗ Keo lai tới sinh kế nông hộ tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Dựa trên kết quả thực nghiệm, chương 4 xây dựng hệ thống khuyến nghị nhằm giải quyết các nút thắt trong chuỗi sản xuất gỗ Keo:

  • Đổi mới công tác quy hoạch và bình đẳng hóa quyền tiếp cận đất đai: Rà soát quỹ đất lâm nghiệp địa phương, tạo điều kiện cho các hộ nghèo và cận nghèo tích tụ hoặc tiếp cận đất sản xuất thông qua các chính sách giao đất bổ sung.
  • Chính sách tín dụng ưu đãi: Mở rộng các gói vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để hỗ trợ hộ nghèo trang trải chi phí cây giống, phân bón, khắc phục tình trạng thiếu vốn đầu tư ban đầu.
  • Nâng cao năng lực kỹ thuật và chuyển đổi sang kinh doanh gỗ lớn: Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống chất lượng cao, hướng dẫn kỹ thuật tỉa thưa, kéo dài chu kỳ khai thác nhằm nâng cao giá trị thương phẩm thay vì chỉ bán gỗ dăm quy mô nhỏ.
  • Hoàn thiện chuỗi liên kết thị trường: Phát triển các mô hình hợp tác xã lâm nghiệp liên kết trực tiếp với các nhà máy chế biến dăm và gỗ trên địa bàn (khoảng cách vận chuyển trung bình hiện tại là 19,4 km) nhằm giảm thiểu tình trạng ép giá từ thương lái trung gian.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa một cách toàn diện các chỉ số kinh tế - kỹ thuật của hoạt động trồng Keo lai tại huyện Phú Lộc:

Nhóm chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Ghi chú / Kiểm định thống kê
Tuổi của chủ hộ (năm) 60,3 11,8 Tương quan với kinh nghiệm trồng ($R^2 = 0,051; P = 0,013$)
Trình độ học vấn chủ hộ (năm đi học) 6,0 3,8 43% chủ hộ chỉ hoàn thành bậc tiểu học
Kinh nghiệm trồng Keo lai (năm) 16,3 7,3 50% số hộ có thâm niên trên 15 năm
Tổng diện tích đất sở hữu (ha/hộ) 4,0 6,0 Tương quan với diện tích Keo ($R^2 = 0,988; P = 0,000$)
Diện tích đất trồng Keo lai (ha/hộ) 3,4 5,5 Chiếm 85% tổng diện tích đất nông hộ
- Diện tích Keo nhóm Thấp nhất (ha) 0,6 0,5 Kiểm định phân tích phương sai
- Diện tích Keo nhóm Thấp (ha) 0,8 0,6 giữa 4 nhóm thu nhập:
- Diện tích Keo nhóm Trung bình (ha) 2,1 1,9 $F = 37,773$ ($P = 0,000$)
- Diện tích Keo nhóm Khá (ha) 9,7 8,1
Tổng thu nhập nông hộ (VNĐ/năm) 128.608.000 - Tương đương hơn 10 triệu VNĐ/tháng
Thu nhập từ Keo lai (VNĐ/năm/hộ) 72.189.000 201.679.803 Chiếm 56,47% tổng thu nhập hộ
Năng suất rừng trồng (VNĐ/ha/năm) 16.580.000 - 24.240.000 - Khác biệt có ý nghĩa ($F = 21,546; p = 0,000$)
Hệ số Gini không có thu nhập Keo 0,13 (13%) - Mức độ phân hóa thu nhập thấp
Hệ số Gini có thu nhập Keo lai 0,39 (39%) - Tác động làm tăng bất bình đẳng thu nhập

Khóa luận đóng góp về mặt học thuật khi kiểm chứng lý thuyết sinh kế DFID tại vùng gò đồi ven biển miền Trung, cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tính chất hai mặt của phát triển lâm nghiệp hộ: vừa là động lực chính thoát nghèo (đóng góp trên 56% thu nhập), vừa là yếu tố gia tăng bất bình đẳng xã hội do rào cản phân bổ tư liệu sản xuất đất đai.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số giới hạn thực tế trong quá trình triển khai:

  • Hạn chế về phạm vi mẫu và đối tượng khảo sát: Nghiên cứu chỉ tập trung vào 150 hộ tại 3 xã thuộc huyện Phú Lộc. Do điều kiện thực địa không có hộ thuộc nhóm giàu tham gia sản xuất Keo lai, phân tích bị khuyết nhóm thu nhập cao nhất theo phân loại đa chiều của Chính phủ.
  • Hạn chế về phạm vi chuỗi giá trị: Số liệu tập trung chủ yếu vào khâu sản xuất của nông hộ; các mắt xích thương mại trung gian, chi phí logistics và giá trị gia tăng ở khâu chế biến sâu công nghiệp chưa được phân tích chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng khảo sát so sánh liên huyện trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; nghiên cứu sâu tác động kinh tế khi nông hộ tham gia các mô hình liên kết chứng chỉ rừng quốc tế (FSC) và đánh giá toàn diện các ngoại ứng môi trường dài hạn của độc canh Keo lai đối với đất và nguồn nước.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý tài nguyên môi trường:

  • Giá trị về phương pháp luận: Khóa luận cung cấp một quy trình mẫu chuẩn mực về việc kết hợp khung sinh kế DFID với phương pháp hạch toán thu nhập của Vedeld et al., kết hợp các công cụ phân tích định lượng (ANOVA, mô hình hóa đường cong Lorenz và hệ số Gini) trong nghiên cứu kinh tế hộ.
  • Giá trị về dữ liệu thực tiễn: Bộ dữ liệu chi tiết về cơ cấu nguồn vốn, năng suất đất rừng và cơ cấu thu nhập nông hộ tại huyện Phú Lộc là tài liệu đối sánh giá trị cho các nghiên cứu thực địa về chính sách giao đất lâm nghiệp (FLA) và chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Gỗ Keo lai đóng góp bao nhiêu phần trăm vào cơ cấu thu nhập của các hộ trồng rừng tại huyện Phú Lộc?
Thu nhập từ hoạt động trồng và kinh doanh gỗ Keo lai đạt bình quân 72.189.000 VNĐ/hộ/năm, chiếm 56,47% tổng thu nhập hàng năm của nông hộ (tổng thu nhập trung bình là 128.608.000 VNĐ/năm). Xét riêng trong nhóm sinh kế từ rừng, gỗ Keo lai chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 95,5%.

2. Nông hộ tại huyện Phú Lộc tiếp cận nguồn đất trồng Keo lai chủ yếu qua các hình thức nào?
Nông hộ tiếp cận đất trồng Keo qua 3 hình thức chính: được Nhà nước giao đất lâm nghiệp (FLA) có cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50 năm (chiếm ưu thế lớn nhất với 92 hộ); đất tự khai hoang (54 hộ); và đất chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp khác (17 hộ).

3. Tại sao thu nhập từ cây Keo lai lại làm gia tăng bất bình đẳng kinh tế tại địa phương?
Sự phân bổ diện tích đất trồng Keo có sự chênh lệch rất lớn theo mức độ giàu có của hộ ($F = 37,773$): nhóm nghèo nhất chỉ sở hữu trung bình 0,6 ha, trong khi nhóm khá sở hữu tới 9,7 ha. Do thu nhập từ Keo phụ thuộc chặt chẽ vào quy mô đất đai, hệ số Gini đã tăng vọt từ 0,13 (khi không tính Keo lai) lên 0,39 (khi tính cả thu nhập Keo lai), phản ánh khoảng cách giàu nghèo bị nới rộng.

4. Sự khác biệt về thu nhập tuyệt đối từ gỗ Keo lai giữa nhóm hộ nghèo nhất và nhóm hộ khá là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra, thu nhập tuyệt đối từ gỗ Keo lai dao động từ 9.260.000 VNĐ/hộ/năm ở nhóm hộ thấp nhất (hộ nghèo) lên đến 232.800.000 VNĐ/hộ/năm ở nhóm hộ khá. Mức chênh lệch này đạt ý nghĩa thống kê qua kiểm định ANOVA với chỉ số $F = 21,546$ ($p = 0,000$).

5. Đâu là động cơ hàng đầu khiến người dân địa phương tham gia trồng loại cây này?
Có 87% số người được hỏi (130 hộ) lựa chọn Keo lai vì mang lại lợi ích tài chính cao cùng khả năng thu hồi vốn nhanh bằng tiền mặt; hơn 70% số hộ (108 hộ) khẳng định giống cây này sinh trưởng tốt trên lập địa đất đai cằn cỗi, xói mòn và nhiều sỏi đá của huyện Phú Lộc.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thanh Tùng đã phản ánh trung thực và toàn diện vai trò trụ cột của cây Keo lai đối với kinh tế nông hộ tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế khi đóng góp tới 56,47% tổng thu nhập gia đình. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các dữ liệu điều tra sơ cấp từ 150 hộ dân, nghiên cứu đã chứng minh rằng sự bất bình đẳng trong phân bổ tài nguyên đất lâm nghiệp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phân hóa thu nhập trong kinh tế rừng (hệ số Gini tăng từ 0,13 lên 0,39). Các hàm ý chính sách và giải pháp do tác giả đề xuất về giao đất bổ sung, hỗ trợ tín dụng và phát triển chuỗi giá trị gỗ lớn mang giá trị ứng dụng cao cho công tác quản trị lâm nghiệp và phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.