Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống rừng phòng hộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa nguồn nước, chống xói mòn và ngăn chặn thiên tai ven biển. Tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban Quản lý rừng phòng hộ được giao quản lý tổng diện tích tự nhiên là 11.687 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm hơn 10.000 ha trải rộng trên các địa hình đồi núi thấp và rừng ngập mặn cửa sông. Hệ thống này bao gồm 4.330 ha rừng phòng hộ đầu nguồn và 6.149 ha rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển, đóng vai trò như lá chắn xanh bảo vệ môi trường cho toàn bộ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tuy nhiên, áp lực từ tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng cùng các hoạt động dân sinh đã tác động nghiêm trọng đến tài nguyên rừng. Trong giai đoạn 2013 – 2017, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý tổng cộng 226 vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn, bao gồm 152 vụ tại khu vực Núi Dinh và 74 vụ tại vùng rừng ngập mặn ven sông Thị Vải. Các hành vi xâm hại diễn ra dưới nhiều hình thức như chặt phá cây rừng, lấn chiếm đất để xây dựng công trình tôn giáo, đào bới đất làm đùng nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản trái phép.

Mục tiêu nghiên cứu là nhận diện các nhóm đối tượng tác động, phân tích căn nguyên kinh tế - xã hội và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm giảm thiểu xung đột giữa phát triển sinh kế và bảo tồn rừng. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2018 tại hai điểm nóng là Núi Dinh và ven sông Thị Vải. Ý nghĩa của đề tài thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng cao độ tàn che của rừng từ dưới 0,8 lên mức tối ưu, đồng thời hoàn thiện chính sách đồng quản lý tài nguyên rừng bền vững cấp địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng ba lý thuyết quản lý tài nguyên và sinh kế hiện đại:

  1. Lý thuyết Lâm nghiệp xã hội (Social Forestry Theory): Nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa cộng đồng địa phương và tài nguyên rừng. Rừng không thể được bảo vệ hiệu quả chỉ bằng các mệnh lệnh hành chính mà cần sự tham gia trực tiếp của người dân thông qua cơ chế chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm.
  2. Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - DFID): Tiếp cận hành vi khai thác rừng của người dân dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế gồm vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội. Sự thiếu hụt đất sản xuất và vốn tài chính là động lực chính thúc đẩy hành vi xâm lấn rừng.
  3. Lý thuyết Quản trị tài nguyên sở hữu chung (Common-Pool Resource Management): Phân tích các xung đột trong khai thác tài nguyên công cộng và xác định quy chế đồng quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng suy thoái tài nguyên.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi: Rừng phòng hộ (khu rừng thành lập nhằm bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai); Áp lực sinh kế (mức độ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên để duy trì thu nhập sinh hoạt); và Lâm sản ngoài gỗ (các sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ rừng ngoài gỗ tròn).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp chặt chẽ giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực địa sơ cấp:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo kiểm kê rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh giai đoạn 2013 – 2017, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và Niên giám thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2016.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra xã hội học bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) với cỡ mẫu 50 hộ gia đình, trong đó 30 hộ tại Núi Dinh và 20 hộ tại khu vực rừng ngập mặn ven sông Thị Vải. Phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình được sử dụng để bảo đảm tính đại diện theo cơ cấu giàu, trung bình, nghèo và thành phần dân tộc. Ngoài ra, nghiên cứu tiến hành tham vấn chuyên sâu 10 chuyên gia là cán bộ quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê mô tả, phân tích tần số và tương quan chéo bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan cơ cấu nhân khẩu, tỷ trọng thu nhập và mức độ tương quan giữa điều kiện kinh tế hộ với các hành vi tác động vào rừng.
  • Thời gian thực hiện: Tiến hành điều tra ngoại nghiệp và thu thập số liệu tập trung từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 50 hộ dân tại hai khu vực trọng điểm mang lại các phát hiện thực chứng nổi bật:

  1. Cơ cấu nhân khẩu và chất lượng lao động thấp: Tổng số nhân khẩu điều tra là 344 người (nam chiếm 57,85%, nữ chiếm 42,15%), với 228 người trong độ tuổi lao động. Đáng chú ý, 97,81% lao động chỉ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống (tiểu học chiếm 22,37%, trung học cơ sở và phổ thông chiếm 75,44%), chỉ có 2,19% qua đào tạo nghề hoặc cao đẳng, đại học. Về nghề nghiệp, 64% chủ hộ làm nông nghiệp thuần túy hoặc lao động làm thuê tự do, 22% buôn bán nhỏ và chỉ 4% là cán bộ công nhân viên.
  2. Phân hóa kinh tế và quy mô gia đình lớn: Trong 50 hộ điều tra, nhóm hộ trung bình chiếm áp đảo với 68% (34 hộ), nhóm hộ nghèo chiếm 20% (10 hộ) và nhóm hộ giàu chỉ chiếm 12% (6 hộ). Quy mô nhân khẩu bình quân tại Núi Dinh đạt 7,44 người/hộ và tại vùng ngập mặn là 8,5 người/hộ, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung của tỉnh (khoảng 4,07 – 4,30 người/hộ). Tỷ lệ người phụ thuộc cao tạo áp lực kinh tế trực tiếp lên chủ hộ.
  3. Mức độ và quy mô vi phạm lâm luật nghiêm trọng: Trong 5 năm (2013 – 2017), tổng số vụ vi phạm bị phát hiện là 226 vụ. Tại Núi Dinh ghi nhận 152 vụ, đỉnh điểm là năm 2014 với 59 vụ vi phạm liên quan đến phá rừng, cưa cây trồng nông nghiệp, khai thác đá và lấn chiếm đất xây dựng cơ sở tôn giáo. Tại ven sông Thị Vải ghi nhận 74 vụ vi phạm, chủ yếu là hành vi đưa phương tiện cơ giới vào đào bới, chặt phá rừng ngập mặn để mở rộng đùng nuôi tôm, cua.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên sâu xa của các tác động tiêu cực xuất phát từ sự mất cân đối giữa quỹ đất sản xuất và nhu cầu sinh kế. Các hộ nghèo sở hữu diện tích đất canh tác nông nghiệp rất hạn chế (dưới 1,0 ha/hộ) và thường nằm ở vị trí không thuận lợi về nguồn nước tưới. Khi thu nhập từ nông nghiệp không đủ trang trải trong 12 tháng, người dân buộc phải vào rừng khai thác củi, lâm sản ngoài gỗ hoặc lấn chiếm đất lâm nghiệp để mở rộng diện tích hoa màu.

Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Anh Tuấn tại Khu bảo tồn Pù Mát và nghiên cứu của Nguyễn Thị Phượng tại Vườn quốc gia Ba Vì, khi khẳng định tỷ trọng thu nhập từ tài nguyên rừng chiếm từ 34% đến 36,4% tổng thu nhập của các hộ cận rừng có trình độ học vấn thấp. Tuy nhiên, điểm đặc thù tại Bà Rịa – Vũng Tàu là áp lực chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang đùng thủy sản mang lại lợi nhuận ngắn hạn rất cao, khiến các vi phạm tại ven sông Thị Vải diễn ra tinh vi hơn.

Để phục vụ công tác quản lý trực quan, các dữ liệu trên có thể được hệ thống hóa thành biểu đồ cơ cấu lao động theo học vấn dạng cột chồng và bảng ma trận đối sánh giữa tỷ lệ sở hữu đất với mức độ vi phạm rừng theo từng tiểu khu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng phòng hộ:

  1. Nhóm giải pháp kinh tế - Chuyển đổi mô hình sinh kế:
    • Triển khai xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng tại Núi Dinh và mô hình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn ven sông Thị Vải.
    • Đặt mục tiêu nâng cao thu nhập của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng thêm 20% – 30% trong giai đoạn 2020 – 2025.
    • Đơn vị chủ trì thực hiện: Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và Chi cục Thủy sản tỉnh.
  2. Nhóm giải pháp chính sách - Hoàn thiện cơ chế giao khoán và chi trả dịch vụ môi trường rừng:
    • Tiến hành rà soát, cắm mốc ranh giới rõ ràng giữa đất rừng phòng hộ và đất sản xuất của người dân; nâng mức đơn giá giao khoán bảo vệ rừng hàng năm tương xứng với công lao động thực tế.
    • Đạt chỉ tiêu 85% – 90% diện tích rừng trọng điểm có chủ quản lý hợp pháp trước năm 2023.
    • Đơn vị chủ trì thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân thị xã Phú Mỹ và các huyện liên quan.
  3. Nhóm giải pháp xã hội - Tuyên truyền và đào tạo nghề:
    • Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt và hướng nghiệp phi nông nghiệp cho ít nhất 40% lực lượng lao động trẻ trong độ tuổi 18 – 35 tại các xã vùng đệm từ năm 2020 đến 2024.
    • Tăng cường tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng nhằm giảm trên 50% số vụ vi phạm lâm luật hàng năm.
    • Đơn vị chủ trì thực hiện: Ủy ban nhân dân cấp xã, Hội Nông dân và Hạt Kiểm lâm liên huyện.
  4. Nhóm giải pháp kỹ thuật và công nghệ - Nâng cao năng lực tuần tra, PCCCR:
    • Ứng dụng công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS), viễn thám và thiết bị bay không người lái (Flycam) để giám sát biến động diện tích rừng định kỳ hàng quý; hiện đại hóa trang thiết bị phòng cháy chữa cháy rừng trên 100% diện tích rừng phòng hộ xung yếu trước năm 2025.
    • Đơn vị chủ trì thực hiện: Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý rừng phòng hộ: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng vi phạm lâm luật (152 vụ tại Núi Dinh, 74 vụ tại Thị Vải) và cơ cấu dân sinh để xây dựng kế hoạch tuần tra, phân bổ nhân lực và trang thiết bị chữa cháy rừng hợp lý.
  • Chính quyền địa phương và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học về thực trạng 97,81% lao động chưa qua đào tạo nghề và áp lực nhân khẩu (7,44 – 8,5 người/hộ), giúp địa phương xây dựng các đề án giảm nghèo, quy hoạch vùng đệm và giải quyết việc làm bền vững.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học lâm nghiệp, kỹ thuật điều tra PRA và mô hình phân tích định lượng kết hợp định tính.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức bảo tồn: Sử dụng dữ liệu về 11.687 ha rừng phòng hộ và mối quan hệ sinh kế cộng đồng để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, chi trả dịch vụ môi trường rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ven biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Yếu tố nào tác động tiêu cực nhất đến tài nguyên rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu? Áp lực sinh kế và thiếu hụt đất sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân gốc rễ nhất. Với 64% chủ hộ làm nông thuần túy hoặc lao động tự do, trong khi 20% thuộc diện hộ nghèo sở hữu dưới 1,0 ha đất canh tác, người dân buộc phải khai thác lâm sản và lấn chiếm đất rừng để đảm bảo thu nhập nuôi sống gia đình có quy mô lớn (7,44 – 8,5 người/hộ).

2. Tình trạng vi phạm lâm luật tại khu vực Núi Dinh diễn ra như thế nào trong giai đoạn khảo sát? Trong 5 năm (2013 – 2017), Núi Dinh ghi nhận 152 vụ vi phạm lâm luật, chiếm 67,26% tổng số vụ vi phạm toàn vùng nghiên cứu. Các hành vi tập trung vào việc chặt phá rừng lấy gỗ, cưa cây để trồng hoa màu, lấn chiếm đất xây dựng công trình tôn giáo trái phép và khai thác đá xây dựng, trong đó năm 2014 là thời điểm bùng phát mạnh nhất với 59 vụ.

3. Trình độ học vấn của người dân địa phương ảnh hưởng ra sao đến công tác bảo vệ rừng? Khảo sát cho thấy 97,81% lực lượng lao động chỉ có trình độ học vấn phổ thông, trong đó 22,37% mới học hết tiểu học và chỉ 2,19% có bằng nghề hay cao đẳng. Trình độ kỹ thuật thấp hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp tại các khu công nghiệp lân cận, khiến người dân tiếp tục phụ thuộc chặt chẽ vào việc khai thác tài nguyên rừng truyền thống.

4. Vì sao giải pháp di dời toàn bộ dân cư ra khỏi rừng phòng hộ không mang lại hiệu quả bền vững? Kinh nghiệm lâm nghiệp chỉ ra rằng việc di dân cơ học làm mất đi lực lượng giám sát tại chỗ và tạo ra xung đột xã hội gay gắt. Khi vắng bóng người dân bản địa, nguy cơ các đối tượng lâm tặc từ bên ngoài xâm lấn, tàn phá rừng càng cao hơn. Hợp tác đồng quản lý và giao khoán rừng gắn với quyền lợi sinh kế mới là giải pháp tối ưu.

5. Luận văn đề xuất mô hình kinh tế nào để kết hợp giữa bảo vệ rừng và tăng thu nhập cho người dân? Luận văn đề xuất áp dụng mô hình canh tác nông lâm kết hợp dưới tán rừng tại vùng đồi núi Núi Dinh và mô hình nuôi thủy sản sinh thái bền vững (tôm, cua) dưới tán rừng ngập mặn Thị Vải. Mục tiêu là giúp các hộ gia đình nhận khoán tăng trưởng thu nhập từ 20% đến 30% mà không làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý 11.687 ha đất lâm nghiệp và hệ thống rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  • Xác định rõ ràng các hình thức tác động bất lợi với tổng cộng 226 vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2013 – 2017 tại Núi Dinh và sông Thị Vải.
  • Chứng minh mối quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa trình độ học vấn thấp (97,81% lao động phổ thông) và thiếu hụt đất sản xuất đối với hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kinh tế, chính sách, xã hội và công nghệ có tính khả thi cao.
  • Cung cấp khung phương pháp luận và số liệu điều tra thực địa tin cậy cho công tác hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là luận giải thành công cơ chế cân bằng giữa bảo tồn hệ sinh thái rừng phòng hộ và nâng cao chất lượng sinh kế cho cộng đồng dân cư địa phương. Trong giai đoạn 2020 – 2025, các cơ quan chức năng cần ưu tiên số hóa công tác tuần tra bằng GIS và mở rộng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu lâm nghiệp có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp để khai thác chi tiết bộ dữ liệu điều tra và các biểu mẫu khảo sát thực địa.