HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN Chủ tịch Hội đồng Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương LÊ MẠNH HÙNG Phó Chủ tịch Hội đồng Q. Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật PHẠM CHÍ THÀNH Thành viên TRẦN QUỐC DÂN NGUYỄN ĐỨC TÀI NGUYỄN NGUYÊN NGUYỄN HOÀI ANH 2 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Trong sản xuất lâm nghiệp, ngoài sự thích hợp về điều kiện đất đai, khí hậu thì việc chọn loại cây trồng, xác định mật độ - khoảng cách trồng, thời vụ trồng, kỹ thuật làm đất, đào hố trồng, phân bón và cách bón, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng, quản lý bảo vệ hợp lý và đúng kỹ thuật là vấn đề rất quan trọng quyết định đến sản lượng và hiệu quả kinh tế của cây trồng. Vì lẽ đó, việc cung cấp cho người nông dân những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong việc trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp cho kết quả cao, từ đó nâng cao kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo là một việc làm cần thiết. Thực hiện Đề án sách trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản cuốn sách Hướng dẫn kỹ thuật trồng một số loài cây lâm nghiệp của hai tác giả: Tiến sĩ Phạm Đức Tuấn và Kỹ sư Nguyễn Hữu Lộc.
Trong nội dung cuốn sách, các tác giả giới thiệu giá trị kinh tế, đặc tính sinh thái học, kỹ thuật trồng, 5 chăm sóc, thâm canh, thu hoạch, chế biến sản phẩm một số cây lâm nghiệp chủ yếu ở miền núi như Dẻ ván ghép, Cà ổi lá đỏ, Trám ghép vỏ vàng, Chè đắng, v. Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 9 năm 2018 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT 6 KỸ THUẬT TRỒNG CÂY DẺ VÁN GHÉP Tên khoa học: Castanea mollissima Thuộc họ: Sồi dẻ (Fagaceae) I. GIÁ TRỊ KINH TẾ Cây Dẻ ván ghép là cây thân gỗ đã có từ hàng ngàn năm, được gây trồng để làm lương thực, thực phẩm.
Hạt dẻ có hàm lượng tinh bột 40-60%, đường 10-22%, protein 5-11%, chất béo 2-7%, nhiều vitamin A, B1, B2, C và chất khoáng, thơm ngon, bổ dưỡng, có thể ăn thay lương thực hoặc chế biến thành kẹo bánh, bột dinh dưỡng cho người già và trẻ em. Ngoài ra hạt dẻ còn có tác dụng bổ thận. Đây cũng là loại cây xóa đói giảm nghèo, tạo hàng xuất khẩu. PHÂN LOẠI GIỐNG Ít nhất có khoảng 7-8 loài dẻ ăn quả trong chi Castanea.
Cụ thể: (1) Castanea bacgiangensis: Dẻ yên thế (còn được gọi dẻ Bắc Giang) phân bố chủ yếu trên lưu 7 vực sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam. Loài này hạt hơi nhỏ nhưng vị ngon, chủ yếu mọc hoang dã hoặc được trồng trên quy mô nhỏ bằng gieo hạt thẳng. Nếu được cải thiện giống và thâm canh thì có thể gây trồng rộng rãi. (2) Castanea crenata: Là loài dẻ ăn quả phân bố chủ yếu ở Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, vùng Đông Bắc Trung Quốc.
(3) Castanea satira: Loài dẻ ăn quả này phân bố chủ yếu ở Nam Âu, thích hợp với kiểu khí hậu Địa Trung Hải. (4) Castanea dentara: Loài dẻ này chủ yếu phân bố ở Bắc Mỹ. (6) Castanea henrgi Rehd et Wils: Loài dẻ phân bố chủ yếu ở Chiết Giang, Phúc Kiến (Trung Quốc), lấy gỗ là chính, hạt có vị thơm ngon nhưng nhỏ.: Loài dẻ ăn quả, mọc hoang dại tại vùng Nam Trung Quốc, bình quân 3 g/hạt, ăn ngon nhưng sản lượng thấp. Loài này có thể là tổ tiên hoang dã của các giống dẻ gây trồng ngày nay, chủ yếu dùng để tạo gốc ghép.
(8) Castanea mollissima Bi (Dẻ ván): Loài này có hạt to, thơm và ngon, có trọng lượng trên 10 g/hạt, sản lượng cao. Đại diện duy nhất của Dẻ ván tại Việt Nam được biết đến là Dẻ Trùng Khánh. 8 Xuất xứ này có vùng phân bố hẹp và chỉ thích hợp với vùng núi cao. Tại vùng ven thành phố Lạng Sơn, độ cao so với mặt nước biển 250 m, dẻ này ra hoa kết quả bình thường với sản lượng bình quân đạt 20-30 kg quả/cây/năm.
Tại Phú Thọ, Lâm trường 97 đã thử trồng (độ cao so với mặt nước biển dưới 50 m), cây sinh trưởng tốt nhưng ra hoa ít và khó đậu quả. Giống này thường gặp là cây cao, gỗ lớn. Đến nay, tại Việt Nam vẫn chỉ nhân giống này bằng gieo hạt. Trên thực tế Castanea mollissima rất phong phú về giống, riêng tại vùng Nam Trung Quốc đã thống kê được trên 300 giống, do ưu thế về năng suất và chất lượng hạt, Dẻ ván từ Trung Quốc đã được dẫn giống đến 17 nước ở khắp các châu lục: Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mỹ, Pháp, Ôxtrâylia và Mỹ Latinh.
Thống kê năm 1990, cây Dẻ ván ghép đã đạt tổng sản lượng 479.200 tấn hạt, đứng đầu là Trung Quốc 102.000 tấn, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hy Lạp, Ôxtrâylia. Sau nhiều năm nghiên cứu và chọn giống, đến năm 1995, Trung Quốc đã chọn được các dòng vô tính cao sản, chất lượng hạt cao để phổ cập cho Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Có 10 giống dẻ (tất cả các dòng này hiện nay đều được nhân bằng phương pháp ghép mắt) như sau: 9 (1) Dẻ vỏ láng la cương: Vỏ hạt láng bóng, trọng lượng mỗi hạt đạt khoảng 10g, nhân vàng nhạt, vị ngon, quả chín muộn vào khoảng trung tuần tháng 10. Dòng này có xuất xứ từ La Cương Quảng Châu.
(2) Dẻ vỏ láng hà nguyên: Dòng này có xuất xứ từ Hà Nguyên Quảng Đông. Hạt to, quả khoảng 14 g/hạt, nhân màu vàng trứng, vị thơm ngon, cho sản lượng cao, quả chín vào cuối tháng 9. (3) Dẻ vỏ láng Phong Khai: Dòng này có xuất xứ từ Phong Khai thuộc Quảng Đông. Vùng đất này đã có lịch sử trên 500 năm trồng dẻ quy mô lớn.
Trọng lượng hạt khoảng 15 g/hạt, vị thơm ngon, quả chín vào cuối tháng 9, có thể bảo quản được lâu. (4) Dẻ triều số 18: Dòng này do Viện Lâm nghiệp thành phố Triều Quan, Quảng Đông tuyển chọn và công nhận năm 1974. Trọng lượng hạt khoảng 11 g/hạt, vị ngọt bùi. Quả chín sớm vào đầu tháng 9.
(5) Dẻ cửu gia: Dòng này có xuất xứ từ Giang Tô - nơi có truyền thống cứ 10 nhà thì 9 nhà trồng dẻ này nên có tên gọi là cửu gia. Trọng lượng khoảng 12 g/hạt, ngọt, giòn, rất ngon. Quả chín muộn vào cuối tháng 9. Quảng Tây đã trồng thử và cũng đạt sản lượng cao, nhưng chín sớm hơn Giang Tô 1 tháng (vào cuối tháng 8).
Cây có tán nhỏ cho phép trồng dày nên sản lượng rất cao; thời gian bảo quản hạt sau thu hoạch tương đối dài. 10 (6) Dẻ vỏ đen: Dòng này được trồng rộng khắp cả vùng núi và đồng bằng Quảng Tây với hạt to khoảng 19 g/hạt, quả chín trong tháng 10. Cây cho sản lượng cao và ổn định, khả năng chịu bệnh tốt. (7) Dẻ vỏ láng dương xô 64 - 28: Dòng này là kết quả cải thiện giống của Viện Thực vật Quảng Tây, có sản lượng cao và ổn định, trọng lượng khoảng 14 g/hạt, sản lượng bình quân mỗi cây 397 kg hạt, quả chín vào trung tuần tháng 10.
(8) Dẻ ngọc lâm 74 - 11: Dòng này cũng do Viện Thực vật Quảng Tây cải thiện giống từ huyện Ngọc Lâm (ven Tây Giang), cho sản lượng cao và ổn định, bình quân đạt 342 kg hạt/cây, trọng lượng mỗi hạt khoảng 11 g/hạt, quả chín vào trung hạ tuần tháng 9. (9) Dẻ nông đại số 1: Dòng này là thành tựu cải thiện giống của Trường Đại học Nông nghiệp Hoa Nam tuyển chọn từ hàng ngàn cá thể được gây đột biến bằng Neutron nhanh. Cây lùn, quả chín sớm, sản lượng cao và ổn định (quả chín sớm hơn các giống khác khoảng 20 ngày là lợi thế trong cạnh tranh thị trường). Tán cây chỉ lùn bằng khoảng 1/2 các giống khác.
Rừng 10 tuổi cây chỉ cao 3,1 m, tán rộng 2,8 m, vòm tán tròn đúng với yêu cầu tạo tán cây ăn quả hiện đại. Tán gọn nên có thể trồng dày tạo sản lượng cao, mật độ trồng 630 cây/ha, sau 3-4 năm bắt đầu cho thu hoạch với 2.250 kg hạt/ha, cá biệt 11 có thể thu hoạch tới 6.646 kg hạt/ha. Hạt nặng bình quân 10,1 gam, tỷ lệ nhân 84,9%. Nhân mịn, giòn, thơm, vị rất ngon.
Hiện nay Dẻ nông đại số 1 đã phổ cập khắp Quảng Đông, Quảng Tây đều đạt kết quả tốt. (10) Dẻ 2 vụ: Là dòng đột biến tự nhiên tuyển chọn từ dẻ gây trồng bằng hạt tại Giang Tây. Dòng này ra hoa sớm, sản lượng cao và ổn định. Trọng lượng 12-15 g/hạt, vị thơm ngon.
Có thể cho thu hoạch từ năm thứ 3. Trong điều kiện quản lý tốt có thể cho sản lượng 3 tấn đến 4 tấn hạt/ha, tỷ lệ nhân 51,9%. Cây đã được trồng thử khắp Lưỡng Quảng đều đạt sản lượng cao. Dẻ 2 vụ trồng thử tại Lạng Sơn cho thấy ra hoa kết quả tốt ngay từ năm thứ 2 (năm đầu ghép mầm tạo cây con, năm thứ 2 cho quả).
Tập tính ra hoa rải vụ của cây tạo ra triển vọng thích ứng rộng với các vĩ độ và độ cao so với mặt nước biển thấp. ĐẶC TÍNH SINH THÁI 1. Khí hậu Phần lớn các giống dẻ ăn quả cần nhiệt độ bình quân năm 15-17oC, nhiệt độ bình quân mùa sinh trưởng cần 21-24oC, mùa hoa 17-25oC; nhiệt độ bình quân thấp hơn 15oC hay cao hơn 27oC đều không thuận cho cây thụ phấn và thụ tinh. Vì vậy, ở vùng vĩ độ thấp, có độ cao so với mặt nước biển thấp thường không thuận lợi cho trồng 12 dẻ ăn quả.
Mưa phùn tháng 4 (mùa hoa dẻ Hoa Nam) không thuận cho cây thụ phấn. Khí hậu khô hạn mùa thu ảnh hưởng xấu đến năng suất hạt; mưa quá nhiều cũng gây rụng sớm hoặc khó bảo quản hạt. Đất trồng Cây thích hợp với tầng đất dày hơn 60 cm, thịt nhẹ hoặc lẫn sỏi, giàu hữu cơ. Nếu trồng ở phương Tây yêu cầu đất trồng dẻ có hàm lượng hữu cơ trên 8%; pH thích hợp từ 5,5-6,5, hàm lượng khoáng 2%.
Dẻ có yêu cầu cao về Mangan (Mn), chất này được lấy từ đất nhờ nấm cộng sinh (lưu ý đất kiềm không thuận lợi cho nấm cộng sinh). Rễ cây dẻ có tập tính phát triển sâu, rộng: rễ cọc có thể sâu hơn 2 m, nhưng hấp thụ chủ yếu tập trung ở 0,8 m trở lên; rễ bằng có thể lan rộng gấp 3 lần tán.