CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm về hộ nông dân và kinh tế nông hộ 1. Khái niệm hộ nông dân Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là” Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”.
Theo Đào Thế Tuấn(1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.[1] Theo Ellis (1993), “Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”.[2] Hộ nông dân là những người có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao”. Qúa trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng có những biến đổi sâu sắc. Xã hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ vì lý do nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập. Cũng có hộ chuyển sang nghề khác và cho thuê đất sản xuất của mình theo kiểu “Phát canh thu tô”.
Tất cả những hộ này đều được coi là hộ nông dân. Ngược lại, những hộ không kinh doanh kiếm lợi từ ruộng đất mà hoạt động kinh tế trong lĩnh vực ngành nghề phi nông nghiệp tuy sống ở nông thôn nhưng không được coi là hộ nông dân. Khái niệm kinh tế hộ nông dân Theo “Kinh tế hộ nông dân” xuất bản năm 2000 của Đào Thế Tuấn thì: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ.
Được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển”.[4] Kinh tế hộ được xem dưới các khía cạnh: - Hộ gia đình nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng. - Các nguồn lực như : đất đai, vốn sản xuất, sức lao động…được góp thành vốn chung của gia đình, cùng chung một ngân sách. - Các thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà ăn chung uống chung, mọi người đều hưởng thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong gia đình. - Gia đình là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc.
Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau. Gia đình chỉ được xem là hộ gia Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình. [1] Gia đình là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc. Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau.
Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế. Kinh tế nông hộ: Là bộ phận kinh tế của gia đình nông dân. Bao gồm cả xã viên hợp tác xã nông nghiệp và nông dân cá thể. Xét về mặt bản chất: Kinh tế hộ gia đình 7 không phải là một thành phần kinh tế độc lập, nó cũng không phải là một sản phẩm riêng của một hình thái kinh tế, xã hội nào đó.
Đặc điểm của kinh tế nông hộ Dựa vào các khái niệm và đặc trưng của kinh tế hộ nông dân ta có thể thấy các đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân là: - Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và quyền sử dụng các yếu tố sản xuất. - Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng có sự thích ứng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Nếu gặp điều kiện thuận lợi nông hộ có thể tập trung mọi nguồn nhân lực.
Khi gặp các điều kiện bất lợi thì cũng có khả năng duy trì bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất có khi quy về sản xuất tự cung, tự cấp. - Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động. Trong kinh tế nông hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế, huyết tộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh tế nông hộ. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích của người lao động và lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế nông hộ.
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả. Quy mô nhỏ nhưng không đồng nghĩa với lạc hậu, năng suất thấp. Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hiệu quả kinh tế cao thì đó là biểu hiện của sản xuất lớn. Thực tế đã chúng tỏ kinh tế nông hộ là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với cây trồng, vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời.
Vai trò, tính tất yếu khách quan của kinh tế hộ trong nền kinh tế quốc dân Sự tồn tại của kinh tế nông hộ là một tất yếu khách quan. Trước hết, nó gắn liền với phát triển của gia đình, gia đình là tế bào cuả xã hội và nó là một tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp nông thôn. Chính sự thống nhất biên chứng giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối trong kinh tế nông hộ đã làm cho kinh tế nông hộ thực hiện được vai trò tự chủ của mình, thể hiện trên các phương diện: Tự xây 8 dưng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lố lãi, tự quyết định chuyển dịch cơ chế đầu tư cơ chế sản xuất, tự quyết định việc liên kết kinh doanh.[6], [8], [15] Trong một số nghành nghề thủ công tinh xảo thì gia đình là một trường học và đó là điều kiện cho sự tiếp nối nghề nghiệp thích hợp. Gia đình khắc phục nỗi lo sợ trong huy động vốn.
Ở các nước đang phát phát triển, nông nghiệp được xem là một mũi nhọn để phát triển kinh tế. Nó là nghành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ rất lớn, bởi vì so với các sản phẩm xuất khẩu khác thì sản phẩm nông nghiệp dễ xâm nhập vào thị trường quốc tế hơn. Hơn nữa nông nghiệp nông thôn được xác định là một thị trường tiêu thụ rộng lớn của các sản phẩm nông nghiệp. Kinh tế hộ nông dân của nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của mình trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ở vùng nông thôn nói riêng.
Sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn khiến bộ mặt nông nghiệp nông thôn và đời sống của người dân có những bước thay đổi đáng kể, giữ một số vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân như: Thứ nhất, Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá. Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình. Tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn- đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ. Bước chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giải thoát khỏi tình trạng nền kinh tế kém phát triển.
Thứ hai, kinh tế hộ sản xuất với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn, việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cả nước nói chung. Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn. Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế. Lao động là nguồn lực dồi 9 dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mức thấp.
Thứ ba, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.