Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Cơ sở lý luận về hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 1. Khái niệm về hộ và hộ nông dân Hộ đã có và tồn tại từ rất lâu, nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và trải qua với nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác nhau quan tâm.
Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, họ đưa ra những quan điểm khác nhau về hộ. Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà - nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công[2]. Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” [2] Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”[2]. Khái niệm hộ nông dân:Tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn chỉnh cao”[2].Khái niệm kinh tế nông hộ Theo bài giảng “Kinh tế hộ và trang trại” của thầy Đỗ Trung Hiếu (Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên) thì: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó có các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất.
Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”[2] Do nông hộ không thuê lao động nên không có khái niệm tiền lương và không được tính lợi nhuận, địa tô và lợi tức. Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế. Đó là sản lượng hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà hộ đã bỏ ra để phục vụ sản xuất [2] Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội.
Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ Kinh tế hộ đã có từ lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong nền kinh tế quốc dân[2] Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển trước tiên giúp nâng cao đời sống của người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước [2] Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất. Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt với giá rẻ hơn.
Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời[2] Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội như lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu. Đồng thời sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản xuất [2] Phát triển kinh tế nông hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống – là cơ sở kinh tế vững chắc để giải quyết các vẫn đề xã hội[2] 1. Đặc trưng của kinh tế nông hộ - Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất[2] Sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, nghĩa là mọi thành viên trong nông hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ 7 n - Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ[2] Trong nông hộ mọi người thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp khác nên việc điều hành san xuất cũng đơn giản gọn nhẹ. - Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân[2].
Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp – mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi trong sản xuất. - Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và điều chỉnh cao[2] Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên có sự thích ứng dễ dàng hơn so với doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn. Nếu gặp điều kiện thuận lợi nông hộ có thể tập trung mọi nguồn lực, thậm chí đôi khi cả khổ phần tất yếu của mình để mở rộng sản xuất.
Khi gặp điều kiện bất lợi cũng có khả năng duy trì bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất, có khi quy về sản xuất tự cung tự cấp. - Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất và lợi ích của người lao động[2]. Trong kinh tế nông hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế, huyết tộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh tế nông hộ. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích của người lao động, và lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế nông hộ - Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả[2].
Quy mô nhỏ không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các doanh nghiệp nghiên cứu có quy mô lớn. Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho có hiệu quả kinh tế cao. Thực tế đã chứng tỏ kinh tế nông hộ là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.
8 n - Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu [2] 1. Phân loại nông hộ Trong sản xuất nông hộ kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được phát triển từ thấp đến cao, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa. Vì vậy nếu căn cứ vào mức độ phát triển kinh tế nông hộ ta có thể chia ra các nhóm sau: - Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp của kinh tế nông hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít vốn, công cụ sản xuất thì thô sơ, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và họ tiến hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
- Nhóm kinh tế hộ tự túc: Nhóm này sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho nhu cầu hàng ngày, sản xuất còn manh mún, lạc hậu không chịu tìm tòi, học hỏi, luôn bằng lòng với bản thân nên hiệu quả trong sản xuất của nhóm hộ này rất thấp[2]. - Nhóm hộ sản xuất nhỏ: Trong quá trình sản xuất có một bộ phận nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần sản xuất để cung cấp cho bản thân gia đình còn có phần dư thừa để bán ra ngoài thị trường. Đây là nhóm hộ phần nào biết làm ăn, chịu khó học hỏi nhưng vẫn chưa thực sự mạnh dạn đầu tư, thuê vốn để làm ăn[2]. - Nhóm kinh tế hộ sản xuất hàng hóa lớn: Đây chính là những loại hộ sản xuất hàng hóa, nên các hộ thuộc nhóm này đã biết đầu tư phát triển loại hình kinh tế mang đặc trưng của mô hình kinh tế trang trại[2] Trên đây là các nhóm hộ thuần nông.
Các hộ có thu nhập chủ yếu từ ngành trồng trọt và chăn nuôi. Đặc trưng của hộ này là chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên. Ngoài loại hộ thuần nông còn có nhóm hộ kiêm ngành nghề, dịch vụ: Đây là loại hộ ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn biết tận dụng những cái có sẵn của 9 n ông cha để lại như: Các ngành nghề truyền thống được kế thừa từ đời này sang đời khác nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình và tận dụng lao động lúc nông nhàn ở nông thôn. Vì vậy loại hộ này có vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh và các kiến thức về thị trường 1.
Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế nông hộ * Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên + Vị trí địa lý và đất đai: Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn. sẽ có điều kiện phát triển kinh tế.Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất.