phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng với tên gọi nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân tại tỉnh Tây Ninh. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả phát triển kinh tế hộ nông dân tại tỉnh Tây Ninh. 9 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân 1.1 Hộ nông dân Theo nhóm “hệ thống thế giới” gồm các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987): “Hộ là một nhóm ngƣời có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh.
Hộ là một đơn vị kinh tế giống nhƣ các công ty, xí nghiệp khác” (Mai Văn Xuân, 2008). Theo Frank Ellis (1988): “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thƣờng nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhƣng chủ yếu đặc trƣng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trƣờng và có xu hƣớng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Ông cũng chỉ ra rằng, có thể phân biệt HND với các hộ kinh tế khác trong nền kinh tế thị trƣờng qua các đặc điểm sau: Đất đai: đối với HND, đất đai không chỉ có giá trị kinh tế mà còn đảm bảo đời sống lâu dài cho gia đình. Lao động: HND chủ yếu dựa vào lao động gia đình, điều này khác biệt với các xí nghiệp tƣ bản.
Vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và chi tiêu: HND thực hiện công việc nhƣ một gia đình hơn là một đơn vị kinh doanh thuần túy, không giống với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nhƣ trong sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Phƣơng tiện, công cụ phục vụ sản xuất kinh doanh: khi đã hội đủ các điều kiện trên các hộ phải có phƣơng tiện sản xuất nếu muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Những đặc điểm nổi bật của HND là một đơn vị kinh tế cơ bản vừa sản xuất, tiêu dùng, kinh doanh và cũng là một đơn vị xã hội; quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất phản ánh mức độ phát triển từ tự cung tự cấp đến sản xuất hàng hóa một phần và hoàn toàn, 10 từ đó xác định quan hệ giữa HND và thị trƣờng; ngoài hoạt động nông nghiệp, HND còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Từ các phân tích đó, tác giả định nghĩa: “Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau”.2 Kinh tế hộ nông dân Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nƣớc Nga, V. Lênin đã lƣu ý: “Hộ nông dân khai thác triệt để năng lực sản xuất đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội. Ông đã chỉ ra năng lực tự quyết định của quá trình sản xuất của HND trong nền kinh tế tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều hƣớng phát triển hàng hoá khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín của hộ dẫn đến những quá trình sự vỡ kết cấu kinh tế”. Trai-a-nôp (1925), kinh tế HND đƣợc hiểu là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình nhƣ một tổng thể mà không dựa vào chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó.
Việt Nam kể từ khi hộ gia đình đƣợc thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Theo Đào Thế Tuấn (1997), kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế HND trong nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngƣ nghiệp, trong bộ phận nào đó có kết hợp với hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Còn theo Đặng Thị Thu Hiền (2015) khi nghiên cứu về xu hƣớng phát triển kinh tế nông hộ trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa thì: “Kinh tế HND là những hộ gia đình có quyền sinh sống trên trên các mảnh ruộng đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình, sản xuất họ thƣờng nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trƣờng”. Tóm lại, có thể thấy: “kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp.
Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên 11 sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội”.3 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân Kinh tế HND không có tƣ cách pháp nhân. Theo Điều 84 Bộ luật Dân sự, để một tổ chức có tƣ cách pháp nhân, nó phải đáp ứng bốn điều kiện: (1) đƣợc thành lập hợp pháp; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Kinh tế HND không đáp ứng đủ các điều kiện về tổ chức và tài sản, do đó, không đƣợc xem là pháp nhân. Quy mô nhỏ: kinh tế HND là hình thức kinh doanh quy mô nhỏ.
Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ban hành ngày 15/4/2010, các hộ này chỉ đƣợc phép sử dụng tối đa 10 lao động và và kinh doanh tại một địa điểm cố định. Vì vậy, quy mô của hộ kinh doanh thƣờng nhỏ, vốn đầu tƣ hạn chế. Hoạt động sản xuất thƣờng mang tính tự cung tự cấp, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính hộ gia đình. Tính bền vững thấp: do quy mô nhỏ, thiếu vốn và lĩnh vực kinh doanh không ổn định, kinh tế HND thƣờng thiếu tính bền vững cao.
Điều này dễ dẫn đến tình trạng hộ kinh doanh ngừng hoạt động, giảm tính bền vững của kinh tế hộ. Khó phân biệt lao động: trong kinh tế HND, việc phân biệt giữa lao động của chủ hộ và lao động thuê ngoài thƣờng không rõ ràng. Chủ hộ thƣờng vừa quản lý vừa tham gia lao động trực tiếp, gây khó khăn trong việc phân loại lao động. Tổ chức theo gia đình: HND đƣợc tổ chức theo mô hình gia đình, trong đó các thành viên cùng sở hữu tài sản và chia sẻ kết quả kinh doanh.
Một số hộ cũng tham gia hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ nhất định. Hoạt động chủ yếu ở nông thôn: kinh tế hộ gia đình chủ yếu tồn tại ở khu vực nông thôn, với các hoạt động chính thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Một số hộ cũng tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau. Phụ thuộc vào lao động thủ công: quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công và công cụ truyền thống, dẫn đến năng suất thấp.
Tích lũy của các hộ này chủ yếu dựa vào lao động gia đình. Hạn chế về quản lý và chuyên môn: theo Nguyễn Văn Huân (2014), “trình độ 12 quản lý và chuyên môn của các chủ hộ thƣờng rất hạn chế, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền lại từ các thế hệ trƣớc. Do đó, hiểu biết của họ về pháp luật, kinh doanh và kinh tế thị trƣờng còn nhiều hạn chế”. Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng mặc dù kinh tế HND đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông thôn, nó vẫn gặp phải nhiều hạn chế về pháp lý, quy mô, tính bền vững và hiệu quả sản xuất.
Những điểm yếu này cần đƣợc khắc phục để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của kinh tế HND trong tƣơng lai.4 Phân loại kinh tế hộ nông dân Dựa trên mục tiêu và cơ chế hoạt động, cũng nhƣ tính chất của ngành sản xuất và mức thu nhập, kinh tế HND có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động: HND tự cấp tự túc: mục tiêu chính của các hộ này là tối đa hóa lợi ích bằng cách sản xuất các sản phẩm cần thiết cho tiêu dùng trong gia đình, không phản ứng với thị trƣờng. Họ hoạt động dựa vào khả năng mở rộng diện tích đất, thị trƣờng lao động để bán sức lao động, và thị trƣờng sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. HND sản xuất hàng hóa: mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận, thể hiện rõ ràng qua việc phản ứng mạnh mẽ với các biến động trên thị trƣờng vốn, ruộng đất và lao động. Theo tính chất của ngành sản xuất: Hộ thuần nông: hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngƣ nghiệp.
Thu nhập chính đến từ các hoạt động này, mặc dù có thể tham gia vào các hoạt động khác nhƣng chiếm tỷ lệ nhỏ so với thu nhập từ nông nghiệp. Hộ kiêm nghề: hoạt động trong cả lĩnh vực nông, lâm, ngƣ nghiệp và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Thời gian và thu nhập từ hai lĩnh vực này tƣơng đƣơng nhau. Hộ chuyên nghề: chuyên kinh doanh trong các lĩnh vực phi nông nghiệp nhƣ cơ khí, mộc, nề, rèn, và các dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp.
Có thể tham gia vào các hoạt động khác nhƣng phần lớn thu nhập và thời gian tập trung vào ngành nghề chính. Căn cứ vào mức thu nhập: 13 Hộ nghèo: theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg “hộ nghèo nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ 700.000 đồng trở xuống, hoặc từ 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ 900.000 đồng trở xuống, hoặc từ 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số này trở lên”. Hộ cận nghèo: “hộ cận nghèo nông thôn có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ 700.000 đồng và thiếu hụt dƣới 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo thành thị có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ 900.000 đồng và thiếu hụt dƣới 3 chỉ số này”. Hộ có mức sống trung bình: “hộ có mức sống trung bình ở nông thôn có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ 1.