CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE QUE HƯƠNG, GIÁ DINH VÀ QUA TRINH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA BÀ NGUYÊN THỊ ĐỊNH TRƯỚC NAM 1954 1. Vài nét về quê hương, gia đình của bà Nguyễn Thị Định 1. Quê hương của bà Nguyễn Thị Định Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn có một vai trò quan trọng. Sự hy sinh và những đóng góp của họ đã góp phần dựng nên truyền thống “Anh hung, bat khuất, trung hậu, đảm đang”.
Trong số những người phụ nữ tài đanh không thể không nhắc đến Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Thiếu tướng Nguyễn Thị Định. một vị Phó tông tư lệnh. một vi nữ tướng đầu tiên của dân tộc Việt Nam và người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi Bến Tre. Sinh thời đại trong Nguyễn Chí Thanh đã từng nhắc đến bà: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng vả trong bộ tư lệnh đánh Mỹ” (Nguyễn Thị Thanh Thúy, 2020, tr.
Bà Nguyễn Thị Định sinh trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở xã Lương Hòa, huyện Gidng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Hỗ Chí Minh 86 km, được hợp thành bởi ba củ lao lớn: củ lao An Hóa, củ lao Minh va cù lao Bao do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiên, sông Ba Lai, sông Hàm Luông va sông Cô Chiên) được phủ sa mau mở bôi đắp cho vùng đất này qua nhiều thé ki. “Nhin trên bản đỏ, tinh Bến Tre có hình rẽ quạt, mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xòc rộng ra ở phía Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang.
có ranh giới chung 1a sông Tiên, phía Tây và Nam giáp tinh Vĩnh Long và tinh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cô Chiên, phía Đông giáp biên Đông với chiều dai bờ biên 65 km. Về tọa độ địa lý, điểm cực nam của Bên Tre năm trên vĩ độ 9°48’ bắc, thuộc huyện Thạnh Phú; cực Bắc nằm trên vĩ độ độ 10°20’ bắc, thuộc huyện Châu Thành, điểm cực đông năm trên kinh độ 106°48' đông, thuộc huyện Binh Đại; điểm cực tây nằm trên kinh độ 105°57' đồng, thuộc huyện Chợ Lach” (Bộ chi huy quan sự tỉnh Bền Tre, 1990, tr. 12 La một tinh đồng bằng châu thô nam sát biên, nên tinh Bên Tre có địa hình bằng phẳng, rải rác có những gidng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chi có một số rừng chi và những dai rừng ngập mặn ven biên và ở các cửa sông. Vì vậy, bon bè tinh đều là sông nước bao bọc, Bến Tre có một hệ thống đường thủy gồm những con sông lớn nối từ biên Đông qua các cửa sông chính như: cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên.
Ngược về phía thượng nguồn đến tận biên giới Campuchia và một hệ thong kênh, rạch chăng chit dan vào nhau chảy khắp ba dai cù lao, rất thuận lợi cho việc giao thông đường thủy. Bên cạnh đó, Bến Tre có 247 km đường bộ (hệ thong chính) và một hệ thông đường phụ (đường làng) phan lớn lắp đất nối liền với đường chỉnh. Cho nên, trong chiến tranh, Bến Tre là một chiến trường dé bị dich chia cắt, phong tỏa. Việc chỉ viện, tiếp tế chuyên quân cũng gặp nhiều khỏ khăn.
Nhưng ngược lại, địa hình sông rach, rừng dừa, bãi mía liên hoàn, rừng chéi ven biển kin dao thuận lợi cho chiến tranh nhân dan phát triển. “Trong giai đoạn hiện nay, Bên Tre có điện tích tự nhiên khoảng 2.2 km?, với dân số là 1. Nam ở phía Đông nam của Tổ quốc, cách thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của khu vực phía Nam khoảng 87 km về phía Tay, qua tinh Tiền Giang và Long An. Bến Tre có vị trí chiến lược quan trọng trong kết nỗi giữa các tỉnh trong vùng Tây Nam Bộ" (Bach Thanh, 2023).
Cau Rạch Miéu - công trình thé ky, là niềm mong ước của bao thé hệ người dan trong tỉnh - gối đầu lên hai bờ sông Tiên; cầu Ham Luông nối liền cù lao Bao, cù lao Minh. Cùng với thì hệ thống đường bộ hệ thong lí tưởng. “Doan quốc lộ 60 chạy từ câu Rạch Miễu qua thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông, thị tran Mỏ Cay, đến cầu Cô Chiên sang tinh Trà Vinh. Đoạn quốc lộ 57 từ thi tran Mỏ Cay, qua thị tran Chợ Lach sang tỉnh Vinh Long.
Tinh lộ 888 nối thị tran Mỏ Cay với thị tran Thạnh Phú. Tinh lộ 885 nói liền thị xã Bến Tre với thị tran Ba Tri qua thị tran Giéng Trôm. Tinh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến pha Tân Phú. Tinh lộ 882 nối quốc lộ 60 với quốc lộ 57.
Tinh lộ 883 nói liền quốc lộ 60 với xã Thới Thuận, dai 58,33km. Tinh 13 lộ 883B từ ngã tư Dé Đông đến xã Thừa Đức, dài 8,1km. Tỉnh 16 887, từ cầu Bến Tre đến ngã ba Sơn Đốc, dài 23,57km” (Bạch Thanh, 2023). Với hệ thống cầu đường nội tinh, ba dai củ lao An Hoá - Bao - Minh thông thương là điều kiện thuận lợi giúp cho những tiềm năng kinh tế - văn hoá - xã hội của Bên Tre được khơi dậy va phát triển mạnh mẽ đưa Bến Tre trở thành cầu nỗi quan trọng giữa trung tâm kinh tế, du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và các tinh trong tiểu vùng Tây Nam Bộ.
Ngược dòng lịch sử, quá trình hình thành vùng đất Bến Tre gan liên với hình thành vùng đồng bằng sông Cửu Long va khởi nguồn cách nay vai triệu năm. Cho đến cách nay khoảng 2.000 nam, đất Bên Tre mới nhô lên khỏi mặt nước biên và phải 500 - 300 năm sau, khi nước biển rút dan, đất Bên Tre dan dan xuất lộ như hình hai hiện nay. Từ thế ky thứ I đến thé kỷ thứ VII sau Công nguyên, đất Bến Tre ngày nay thuộc lãnh thé nước Phù Nam, một dé chế hùng mạnh rộng lớn, nhưng vẻ sau nội bộ chia rẽ, và suy yeu dân. Trong quyên Chân Lạp phong thô ky, Châu Đạt Quan, một sứ thần của nhà Nguyên (Trung Quốc), trong chuyến đi sứ sang kinh đô Angkor của nước Chân Lạp vào năm 1296 bằng đường thủy qua ngõ sông Cửu Long, đã miêu tả quang cảnh vùng này thời ay như sau: “Những cửa rộng của dong sông lớn chảy dài hang trăm dặm, bóng mát um tim của những gốc cô thụ và cây mây dải tạo thành nhiều chỗ trú sum suê.
Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thay những cánh đông hoang không có một gốc cây nao. Xa nửa tam mắt chỉ thay toàn cỏ cây day ray. Hàng tram, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bảy.
Tiếp đó, nhiều con đường đốc day tre chạy dai hàng trăm dam” (Châu Đạt Quang, 1970, tr. Theo Đại Nam thực lục tiền biên (1558-1777) vào tháng 2 năm Miậu Dan (1698), chủa Nguyễn Phúc Chu (1697-1738) cử Lễ thành hau Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) làm Thống suất kinh lược xứ Đồng Nai. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào miền Nam lập ra phủ Gia Định thì dat Bến Tre còn 1a của nước Thủy Chân Lạp (thuộc Phù Nam trước đây). Trong tập bút ký viết về Dang Trong, giữa thế ky XVIII, Lê Quý Đôn ghi: 14 “Từ các cửa biên Can Giờ, Lôi Lạp, Cửa Dai, Cửa Tiêu trở vào, toàn là rừng ram hang ngàn dam”.
Đó là nhìn từ bên ngoài, đi sâu vào bên trong đã có nhiều “löm” din cư khai phá ruộng nương va sinh sống. trại đông đúc” (Lê Quý Đôn, 1977, tr. Năm Dinh Sim, Nac Nguyên (1709-1757) la quốc vương của Chân Lạp mất. Một người chú họ của quốc vương là Nặc Nhuận tạm nắm quyền điều hành việc nước.
Biên than triều tau với chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) phong Nac Nhuận làm quốc vương Chan Lap dé ôn định biên cương và xin hiến đất hai phủ Tra Vang (thuộc Bến Tre và Trà Vinh ngảy nay), Ba Thắc (thuộc Sóc Trăng và Bạc Liêu ngày nay) dé được chúa chuẩn, cho lập ngôi. Như vậy, từ năm 1757, đất Bên Tre không còn thuộc Chân Lạp nữa mà được sáp nhập vào bản đồ nước Nam được thành lập tông Tân An, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định. Tông Tân An lúc này có khoảng một tram thôn trai. Nguyễn Duy Oanh ghi trong Tinh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam: “Bay giờ, tại hữu ngan rạch Bên Tre (gần rạch Cá Lóc), quan địa phương có cất cai trạm đề kiêm soát các thuyền buôn bán qua lại trên sông, đồng thời cũng đẻ thu thuế các thuyền buôn ấy.
Trạm này gọi là bến thuế” (Nguyễn Duy Oanh, 1971, tr. Thời nhà Nguyễn, năm 1808, các đỉnh đổi thành tran, các huyện hay châu đổi thành phủ, các tông thăng thành huyện. Như vậy, tông Tân An được đôi thành huyện Tân An, thuộc phủ Định Viễn, trắn Vĩnh Thanh. Huyện Tân An mới thành lập được chia thành hai tong (Tân Minh va An Bảo) với 135 thôn, trại.
Tổng Tân Minh có 72 thôn. Tông An Bảo gom 63 thôn, trại. Năm 1823, huyện Tân An được thăng thành phủ Hoằng An. Tông Tân Minh được thăng thành huyện Tân Minh, tong An Bảo được thăng thành huyện Bảo An.
Năm 1832, vua Minh Mạng thực hiện một sé thay đôi về mặt hành chính. Theo đó, các tông tran bị xóa bỏ, các đinh tran được đôi thanh tỉnh. Cả nước có 30 tỉnh vả một phủ Thừa Thiên. Khu vực Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
Dat Bên Tre bây giờ là phủ Hoằng Trị gồm hai huyện Tân Minh, Bảo An va trực thuộc tinh Vinh Long. 15 Nam 1851, vua Tự Đức cho hợp nhất 2 phủ (Hoằng Trị và Hoang An) lay tên chung là phủ Hoằng Trị (đất Bên Tre), gồm 4 huyện: Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh), Bao An và Bao Huu (củ lao Bảo) thuộc tỉnh Vĩnh Long. Lúc này, cù lao An Hóa vẫn thuộc tỉnh Định Tường. Năm 1867, sau khi chiếm hết Nam kỳ, thực dân Pháp tô chức lại các đơn vị hành chính.
Nam Kỳ được chia thành 7 tỉnh gồm 24 sở tham biện. “Phủ Hoằng Trị (Bến Tre) của tinh Vĩnh Long đổi thành hạt Hoang Trị với 26 tong, 192 làng, dưới quyền cai trị trực tiếp của một viên tham biện, hay còn gọi là thanh tra hành chính người Pháp. Tháng 12/1867, hạt Hoằng Trị lại chia ra làm 2 Sở tham biện 1a: Bến Tre và Mo Cay. (Ban Chấp hành Đảng bộ tinh Bến Tre, 2017, tr.
Năm 1871, thực dan Pháp lại quyết định nhập 2 Sở tham biện Bến Tre và Mỏ Cay thành Sở tham biện Bén Tre.