Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đóng góp của Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954-1975" do sinh viên Nguyễn Trí Thuận thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Chơn Tuệ (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2024).

Lý do chọn đề tài

  • Bến Tre là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm từ thời kháng chiến chống Pháp với các cuộc khởi nghĩa vũ trang tiêu biểu (Trịnh Viết Bàng, Phan Tôn - Phan Liêm, Lê Quang Quan - Tán Kế, Nhiêu Đâu, Nhiêu Gương) cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và 9 năm kháng chiến chống Pháp.
  • Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại hiệp định, thực hiện các chiến dịch khủng bố "tố cộng, diệt cộng", đặt cách mạng miền Nam vào tình thế thử thách nghiêm trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1/1959) đã mở đường cho phong trào Đồng Khởi năm 1960, biến Bến Tre thành cái nôi của phong trào, khai sinh "Đội quân tóc dài" và phương châm "Ba mũi giáp công".
  • Thiếu tướng Nguyễn Thị Định là nữ tướng duy nhất ở thế kỷ XX của dân tộc Việt Nam, Phó Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, người chỉ huy phong trào Đồng Khởi tại Bến Tre và là thuyền trưởng đầu tiên mở tuyến chi viện vũ khí trên biển (tiền đề Đường Hồ Chí Minh trên biển).
  • Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ toàn diện cuộc đời hoạt động và cống hiến của bà đối với phong trào cách mạng Bến Tre cũng như sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động cách mạng của Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954-1975; qua đó nhận xét, đánh giá vai trò và đóng góp của bà.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (3 nhiệm vụ cụ thể):
    1. Phân tích, đánh giá các sự kiện của Lịch sử Việt Nam có sự tác động đến hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định xuyên suốt giai đoạn 1954-1975.
    2. Sưu tầm, chọn lọc các tư liệu tin cậy từ nhiều nguồn khác nhau để phục dựng khách quan, khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.
    3. Tổng kết thực tiễn, đánh giá khách quan vai trò và đóng góp của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đối với cách mạng Bến Tre và sự nghiệp giải phóng dân tộc, làm nổi bật hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh cách mạng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động cách mạng của Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), bao gồm hoạt động tại tỉnh Bến Tre, chiến trường miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền, miền Bắc và các hoạt động quốc tế tại Liên Xô, Cuba.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1954 đến năm 1975 (có phần khái quát bối cảnh lịch sử và hoạt động giai đoạn trước 1954).
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Bến Tre gắn liền với bối cảnh lịch sử chiến trường miền Nam và cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và nguồn tài liệu

Tác giả xây dựng nghiên cứu dựa trên quan điểm lịch sử mác-xít và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các văn kiện nền tảng:

  • Hồ Chí Minh toàn tập.
  • Tác phẩm Thư vào Nam của Tổng Bí thư Lê Duẩn.
  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975).
  • Hồi ký Không còn con đường nào khác của chính tác giả Nguyễn Thị Định (Nxb. Phụ nữ, 1969/1986).
  • Các công trình chuyên khảo, địa chí và lịch sử địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930-2015), Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (Tập II), Bến Tre Đồng khởi anh hùng, Địa chí Bến Tre, Lịch sử phụ nữ Nam Bộ kháng chiến, tư liệu lưu trữ tại Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định và Bảo tàng/Di tích Quốc gia đặc biệt Đồng Khởi Bến Tre.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng kết hợp các phương pháp chuyên ngành lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hoạt động, sự kiện cách mạng theo trình tự thời gian từ năm 1954 đến năm 1975 nhằm phản ánh chân thực quá trình công tác của nhân vật trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh lịch sử.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp bản chất của các sự kiện, đánh giá vai trò lãnh đạo, đóng góp chiến lược và rút ra các quy luật, bài học lịch sử về vai trò của nữ tướng.
  • Phương pháp phân tích và đánh giá tư liệu: Đối chiếu chéo giữa các nguồn tư liệu văn kiện, hồi ký nhân chứng và tài liệu tổng kết lịch sử để đảm bảo tính khách quan và khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về quê hương, gia đình và quá trình hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định trước năm 1954

Chương này trình bày bối cảnh địa lý, lịch sử của vùng đất Bến Tre, truyền thống gia đình và các chặng đường hoạt động đầu tiên của nhân vật:

  • Địa bàn Bến Tre: Tỉnh đồng bằng châu thổ rộng khoảng 2.200 $\text{km}^2$, hình thành bởi 3 dải cù lao (cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh) được bao bọc bởi 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên), có 65 km bờ biển. Địa hình kênh rạch chằng chịt, rừng dừa, bãi mía thuận lợi cho chiến tranh nhân dân nhưng cũng dễ bị đối phương chia cắt.
  • Gia đình: Nguyễn Thị Định (Út Định, Ba Định) sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, là con út thứ mười của ông Nguyễn Văn Tiên và bà Trương Thị Tình. Do hoàn cảnh nghèo khó và đau ốm, bà học chữ tại nhà cùng anh trai thứ ba là Ba Chuẩn, sớm tiếp thu tinh thần trượng nghĩa qua truyện thơ Lục Vân Tiên.
  • Hoạt động cách mạng trước 1954:
    • Năm 1936 (16 tuổi), tham gia phong trào dân sinh, dân chủ: liên lạc, rải truyền đơn, cổ động bán báo Dân chúng.
    • Tháng 10/1938 (18 tuổi), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; kết hôn với đồng chí Nguyễn Văn Bích (Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bến Tre).
    • Năm 1939, sinh con trai đầu lòng (Nguyễn Ngọc Minh / anh On). Ba ngày sau khi sinh, chồng bà bị địch bắt và kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo (sau đó hy sinh tại đây).
    • Ngày 19/7/1940, bà bị bắt giam tại Bến Tre, sau đó bị đày lên Trại giam Bà Rá (tỉnh Bình Phước) khi con mới 7 tháng tuổi. Tại nhà tù, bà thể hiện khí phách kiên trung, bảo vệ cơ sở cách mạng; đến cuối năm 1943, do bệnh tim chuyển nặng, địch buộc phải đưa bà về quản thúc tại địa phương.
    • Tháng 8/1945, bà cầm cờ dẫn đầu đoàn quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Bến Tre (ngày 25/8/1945 chính quyền về tay nhân dân). Cuối 1945 - đầu 1946, được bầu vào Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc tỉnh.
    • Tháng 3-4/1946, tham gia đoàn đại biểu Quân khu 8 vượt biển ra Bắc báo cáo tình hình Nam Bộ với Chủ tịch Hồ Chí Minh (gặp ngày 19/5/1946) và xin chi viện vũ khí.
    • Tháng 11/1946, bà làm thuyền trưởng chỉ huy tàu gỗ ngụy trang chở 12 tấn vũ khí, đạn dược và tài liệu vượt biển an toàn từ Quảng Ngãi về cập bến Thạnh Phong (Thạnh Phú, Bến Tre), bàn giao cho đồng chí Trần Văn Trà (Tư lệnh Quân khu 8). Chuyến đi là tiền đề thực tiễn để Trung ương mở tuyến vận tải chiến lược "Đường Hồ Chí Minh trên biển".
    • Giai đoạn 1947-1953: Đảm nhận các trọng trách Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bến Tre, Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh.
Mốc thời gian Sự kiện / Hoạt động của bà Nguyễn Thị Định
15/3/1920 Sinh tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
1936 Bắt đầu tham gia phong trào đòi dân sinh, dân chủ tại địa phương.
10/1938 Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
19/7/1940 - 1943 Bị thực dân Pháp bắt giam và đày tại Trại giam Bà Rá (Bình Phước).
25/8/1945 Cầm cờ dẫn đầu quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền tại thị xã Bến Tre.
Tháng 4 - 11/1946 Vượt biển ra Hà Nội gặp Bác Hồ; chỉ huy chuyến tàu chở 12 tấn vũ khí về Nam Bộ.
1947 - 1953 Tỉnh ủy viên Bến Tre, Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, Hội trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Chương 2: Hoạt động cách mạng của Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975

Chương này tập trung vào trọng tâm hoạt động chỉ đạo kháng chiến chống Mỹ qua các thời kỳ:

  • Giai đoạn 1954 - 1959 (Bám đất bám dân, chuẩn bị lực lượng):
    • Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, bà được Đảng phân công ở lại miền Nam, giữ chức Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc Nam Bộ, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Bến Tre; gửi con trai Nguyễn Ngọc Minh ra miền Bắc học tập.
    • Đối phó với chính sách khủng bố "tố cộng, diệt cộng", Đạo dụ số 2 (1955), Đạo dụ số 7 (1955), Đạo dụ số 57 (1956) và chế độ phân loại gia đình A-B-C, gom dân lập Khu trù mật Thành Thới (Mỏ Cày, 30/9/1959).
    • Bà Nguyễn Thị Định cải trang linh hoạt (thương buôn, nông dân, người tu hành, người chăn vịt, người ở), dùng dao lam gọt vết bớt trên mặt để tránh tai mắt mật thám, bám sát các cù lao để gầy dựng cơ sở.
    • Giữa năm 1957, Tỉnh ủy Bến Tre thành lập 2 đại đội vũ trang ngầm tại Cù lao Minh (Lê Minh Đào làm Chính trị viên) và Cù lao Bảo (Nguyễn Văn Cứng làm Chính trị viên).
  • Thủ lĩnh phong trào Đồng Khởi năm 1960:
    • Tiếp thu tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (1/1959), bà Nguyễn Thị Định cùng Tỉnh ủy Bến Tre phát động cuộc Đồng Khởi bắt đầu từ 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) ngày 17/1/1960, sau đó lan rộng khắp toàn tỉnh.
    • Sáng lập và lãnh đạo "Đội quân tóc dài" – lực lượng chính trị trực diện của phụ nữ, sử dụng phương châm "Ba mũi giáp công" (chính trị, quân sự, binh vận) và chiến thuật "tản cư ngược", phá vỡ hệ thống kìm kẹp của đối phương.
  • Giai đoạn 1961 - 1967 và 1968 - 1975:
    • Năm 1965, bà giữ chức Phó Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời là Đoàn trưởng Đoàn Phụ nữ Giải phóng miền Nam.
    • Tham gia chỉ đạo tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp tham gia chỉ đạo các đợt tiến công chiến lược (Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975).
    • Tham gia công tác đối ngoại nhân dân, vận động phong trào ủng hộ Việt Nam tại Liên Xô, Cuba và nhiều diễn đàn quốc tế.

Chương 3: Vai trò của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đối với sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc 1945 - 1975

Chương tổng kết khẳng định tầm vóc và dấu ấn của nhân vật:

  • Đối với nhân dân Bến Tre: Là người con ưu tú, gắn bó máu thịt với phong trào quần chúng; người tổ chức, lãnh đạo phong trào Đồng Khởi đưa Bến Tre trở thành biểu tượng quật khởi, được Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam trao tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ, diệt ngụy".
  • Đối với dân tộc Việt Nam: Là biểu tượng tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"; nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam ở thế kỷ XX; có đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị và binh vận.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Phục dựng có hệ thống: Khóa luận tái hiện đầy đủ và xác thực tiến trình hoạt động cách mạng của Nữ tướng Nguyễn Thị Định từ năm 1936 qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt giai đoạn 1954-1975.
  2. Làm rõ dấu ấn lãnh đạo thực tiễn: Khẳng định vai trò của bà trong 3 sự kiện lịch sử then chốt:
    • Thuyền trưởng chỉ huy chuyến tàu 12 tấn vũ khí vượt biển năm 1946.
    • Linh hồn chỉ đạo phong trào Đồng Khởi Bến Tre năm 1960, sáng lập Đội quân tóc dài.
    • Nữ chỉ huy cấp cao trong Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam giai đoạn đánh Mỹ.
  3. Tổng kết bài học lịch sử: Đúc kết phương thức đấu tranh "Ba mũi giáp công" và nghệ thuật vận động quần chúng nhân dân bám trụ địa bàn, giữ vững căn cứ cách mạng trong điều kiện địch kìm kẹp gắt gao.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử được tổng hợp, phân tích có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp Nữ tướng Nguyễn Thị Định.
  • Làm rõ thêm đặc điểm lịch sử, phong trào đấu tranh cách mạng của phụ nữ miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Bổ sung tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Địa phương tỉnh Bến Tre tại các trường trung học phổ thông và cơ sở đào tạo sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu lưu trữ tiếp cận và năng lực lý luận của sinh viên thực hiện, khóa luận chủ yếu tập trung sâu vào các sự kiện diễn ra tại chiến trường Bến Tre và miền Nam; các tư liệu về hoạt động đối ngoại của bà Nguyễn Thị Định tại Liên Xô, Cuba và các diễn đàn quốc tế trong giai đoạn chống Mỹ chưa được khai thác sâu bằng nguồn tài liệu địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tư liệu ngoại giao, hồi ức của các phái đoàn quốc tế và các tài liệu lưu trữ Trung ương về giai đoạn bà Nguyễn Thị Định tham gia công tác đối ngoại và hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử học, Việt Nam học.
    • Giáo viên giảng dạy Lịch sử Việt Nam và Lịch sử Địa phương tại các trường phổ thông, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Các nhà nghiên cứu về phong trào phụ nữ, phong trào Đồng Khởi và chiến tranh cách mạng Việt Nam.
  • Nội dung giá trị:
    • Chương 1 và Chương 2 là nguồn tham khảo chi tiết về các sự kiện lịch sử cụ thể, địa danh hành chính Bến Tre qua các thời kỳ, tư liệu về chuyến vượt biển vũ khí năm 1946 và quá trình hoạt động bí mật của cán bộ cách mạng trong giai đoạn 1954-1959.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các nguồn tài liệu căn bản nào để tái hiện cuộc đời bà Nguyễn Thị Định?
Trả lời: Tác giả khai thác các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thư vào Nam của đồng chí Lê Duẩn; cuốn hồi ký Không còn con đường nào khác của chính bà Nguyễn Thị Định; các công trình lịch sử chính thống như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (1930-2015), Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Bến Tre Đồng khởi anh hùng, cùng tư liệu thực tế tại Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định và Di tích Quốc gia đặc biệt Đồng Khởi.

2. Chuyến vượt biển chở vũ khí ra Bắc vào Nam năm 1946 của bà Nguyễn Thị Định có quy mô và ý nghĩa như thế nào?
Trả lời: Đoàn xuất phát tháng 3/1946 từ Cồn Lợi (Bến Tre) ra miền Bắc báo cáo tình hình Nam Bộ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ngày 19/5/1946. Đến tháng 11/1946, bà chỉ huy thuyền gỗ ngụy trang chở 12 tấn vũ khí, đạn dược vượt qua bão gió và sự tuần tra của địch về cập bến Thạnh Phong (Bến Tre), bàn giao tận tay cho đồng chí Trần Văn Trà (Tư lệnh Quân khu 8). Đây là chuyến chi viện vũ khí đầu tiên bằng đường biển, mở ra tiền đề thực tiễn cho sự ra đời của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

3. Tại Bến Tre, giai đoạn 1954-1959 bà Nguyễn Thị Định đã dùng những biện pháp gì để hoạt động bí mật?
Trả lời: Để tránh sự truy lùng gắt gao của chính quyền Ngô Đình Diệm sau các đạo luật tố cộng và lập khu trù mật, bà đã nhờ người dùng dao lam gọt vết bớt trên mặt để thay đổi nhận dạng; thường xuyên cải trang thành người buôn bán, nông dân, người tu hành, người chăn vịt hoặc người ở để luân chuyển qua các vùng cù lao Minh, cù lao Bảo, An Hóa nhằm bám dân, gầy dựng cơ sở.

4. Đóng góp nổi bật nhất của bà Nguyễn Thị Định trong phong trào Đồng Khởi năm 1960 là gì?
Trả lời: Bà là linh hồn lãnh đạo Tỉnh ủy Bến Tre chỉ đạo phong trào Đồng Khởi bùng nổ ngày 17/1/1960 tại huyện Mỏ Cày; trực tiếp sáng lập và lãnh đạo "Đội quân tóc dài" – lực lượng đấu tranh chính trị trực diện của phụ nữ, vận dụng phương châm "Ba mũi giáp công" (chính trị, quân sự, binh vận) làm tan rã từng mảng chính quyền cơ sở của địch.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Trí Thuận đã phục dựng chân thực, khoa học và hệ thống toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng cùng những cống hiến đặc biệt của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định trong giai đoạn 1954-1975. Tác phẩm làm sáng rõ bản lĩnh của người nữ chỉ huy kiên cường qua chuyến mở đường chi viện vũ khí năm 1946, vai trò thủ lĩnh phong trào Đồng Khởi năm 1960 và cương vị Phó Tổng tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử quân sự, lịch sử phụ nữ và giảng dạy lịch sử địa phương.