Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài “Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1965)” do nghiên cứu sinh Phạm Đức Thuận thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), bảo vệ năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Hoa và PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xác định việc thiết lập “ấp chiến lược” là “quốc sách”, đóng vai trò “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965). Mục đích cốt lõi của quốc sách này là gom dân, chiếm đất, kiểm soát chặt chẽ khu vực nông thôn, triệt phá căn cứ cách mạng và cách ly nhân dân khỏi các lực lượng vũ trang giải phóng theo phương châm “tát nước bắt cá”. Sau cuộc đảo chính tháng 11-1963, chương trình được điều chỉnh mang tên gọi “ấp tân sinh” nhưng bản chất bình định vẫn không thay đổi. Miền Tây Nam Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa là vựa lúa lớn của cả nước, vừa sở hữu địa hình sông nước và rừng ngập mặn thuận lợi cho chiến tranh nhân dân. Mặc dù đã có các công trình đề cập đến cuộc kháng chiến chống Mỹ trên quy mô toàn miền Nam hoặc lịch sử Đảng bộ địa phương, nhưng trước thời điểm tác giả thực hiện công trình, chưa có một nghiên cứu chuyên sâu, độc lập nào tái hiện toàn diện và có hệ thống phong trào chống phá ấp chiến lược trên toàn địa bàn miền Tây Nam Bộ trong suốt giai đoạn 1961 – 1965.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trình bày một cách có hệ thống phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược của quân và dân miền Tây Nam Bộ từ năm 1961 đến năm 1965; từ đó rút ra các đặc điểm, vai trò, hạn chế và bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ địa bàn Tây Nam Bộ hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  • Một là, phân tích những biện pháp thiết lập “ấp chiến lược” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cũng như bối cảnh lịch sử của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965.
  • Hai là, trình bày những điều kiện của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ, những chủ trương của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam về đấu tranh chống phá ấp chiến lược trong giai đoạn Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965), đồng thời phân tích sự vận dụng chủ trương của Đảng trong đấu tranh chống phá ấp chiến lược ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
  • Ba là, tái hiện quá trình quân và dân miền Tây Nam Bộ từng bước phá tan “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở khu vực miền Tây Nam Bộ.
  • Bốn là, đưa ra những nhận xét về những đặc điểm nổi bật, về vai trò cũng như những hạn chế của phong trào, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ đối với công cuộc xây dựng và phát triển miền Tây Nam Bộ hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược của quân và dân miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1961 – 1965.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1961 đến năm 1965, tương ứng với khoảng thời gian Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và thực hiện quốc sách ấp chiến lược (sau đó là ấp tân sinh) ở miền Nam Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn miền Tây Nam Bộ giai đoạn 1961 – 1965, bao gồm các tỉnh theo cách gọi của chính quyền cách mạng là Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (gồm Hậu Giang), Rạch Giá, Sóc Trăng (gồm phần lớn Bạc Liêu), Cà Mau (gồm huyện Giá Rai / Đông Hải thuộc Bạc Liêu). Địa bàn này tương ứng với các đơn vị hành chính do chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý gồm Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Chương Thiện (thành lập tháng 12-1961), Kiên Giang, Ba Xuyên và An Xuyên.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành bốn nhóm tài liệu cơ bản:

  1. Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ:
  • Nhóm công trình lịch sử toàn quốc và quân sự: Công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học (1995) của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; công trình Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Tập 3, 2010) do Nguyễn Văn Minh chủ biên; công trình Lịch sử phong trào đấu tranh chống phá bình định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Tập 2, 2015) do Nguyễn Huy Thục chủ biên (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam). Các tài liệu này làm rõ đường lối chỉ đạo chung của Đảng, khẳng định hiệu lực của phương châm “hai chân, ba mũi” và chiến lược tiến công tổng hợp.
  • Nhóm công trình về chiến trường Nam Bộ: Chung một bóng cờ (1993) do Trần Bạch Đằng chủ biên (chứa đựng hồi ức của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy Tây Nam Bộ như Nguyễn Thành Thơ, Vũ Đình Liệu); Khu VIII - Trung Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) (2004) do Nguyễn Minh Đường chủ biên; Miền Nam giữ vững thành đồng của GS. Trần Văn Giàu (in lại trong Tổng tập Trần Văn Giàu, 2006); các công trình của Hà Minh Hồng như Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969-1975) (2000) và Nam Bộ 1945 - 1975 - Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng (2008); Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010) của Hội đồng Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến; Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) (2010) do Nguyễn Quý chủ biên.
  1. Nhóm các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước:
  • Các chuyên gia và nhà hoạch định quân sự phương Tây: Sir Robert Thompson với hai tác phẩm Defeating communist insurgency: The lesson of Malaya and Vietnam (1965) và Make for the Hills: Memories of Far Eastern Wars - No Exit From Vietnam (1989), chỉ ra sự áp dụng mô hình chống nổi dậy Mã Lai vào nông thôn miền Nam Việt Nam là một sai lầm do không phân biệt được lực lượng cách mạng và nhân dân bản địa; Báo cáo của Lầu Năm Góc mang tên The Strategic Hamlet Program 1961 - 1963 (1971) ghi nhận các khía cạnh tổ chức, viện trợ và mục tiêu chống nổi dậy; William Colby với tác phẩm Một chiến thắng bị bỏ lỡ (2007) phân tích mô hình thí điểm Buôn Enao; Robert McNamara với hồi ký Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (1995) thừa nhận thất bại bắt nguồn từ việc không hiểu văn hóa và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam.
  • Các nhà nghiên cứu và học giả quốc tế: Gabriel Kolko trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh (1989) phân tích sự phẫn uất của nông dân đồng bằng sông Cửu Long trước chính sách cưỡng bức di dân; Neil Sheehan trong Sự lừa dối hào nhoáng (2003) miêu tả tình trạng bế tắc chiến thuật của Mỹ sau trận Ấp Bắc; George C. Herring trong tác phẩm Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ 1950 – 1975 (2004) vạch rõ sự tha hóa, tham nhũng và tính chất cưỡng bức của chính quyền Sài Gòn tại cơ sở; Edward Miller trong Liên minh sai lầm (2016) phân tích sự đổ vỡ quan hệ giữa chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ xung quanh mục tiêu “cách mạng nhân vị” và kiểm soát nông thôn; luận văn của James M. Higgins (1989) và Peter Francis Leahy (1990) về nguyên nhân thất bại của chương trình ấp chiến lược.
  1. Nhóm các công trình chuyên khảo và luận án chuyên sâu về ấp chiến lược:
  • Luận án và chuyên khảo Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-1965) (2003) của Trần Thị Thu Hương; công trình Phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược 1963 - 1964 (2006) của Nguyễn Công Thục; luận án tiến sĩ Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965) (2006) của Huỳnh Thị Liêm.
  • Các luận văn của học viên Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn: Nguyễn Viết Danh (1963) với đề tài Quốc sách Ấp Chiến lược trong công cuộc phát triển kinh tế Quốc gia và Nguyễn Văn Tương (1969) với Thử lượng giá các cuộc cải tổ hành chánh xã ấp từ năm 1964 đến nay.
  • Các bài báo học thuật trên Tạp chí Học tập, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Quân sự của các tác giả Duy Nghĩa (1963), Trần Văn Giàu (1968), Phạm Quang Toàn (1976), Nguyễn Công Thục (1999).
  1. Nhóm công trình lịch sử địa phương tại miền Tây Nam Bộ:
  • Công trình của lực lượng vũ trang: Bộ sách Những trận đánh của lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long (9 tập); Quân Khu 9 - 30 năm kháng chiến (1995); Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến 1954-1975; Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến; Kỷ yếu hội thảo khoa học 50 năm chiến thắng Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là, Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm (2013) với tham luận của Phạm Văn Trà, Mai Quang Phấn, Vũ Quang Đạo, Đinh Quang Hải, Hồ Khang, Trần Hữu Huy, Trần Ngọc Long, Hồ Sơn Đài.
  • Lịch sử Đảng bộ các tỉnh, huyện: Địa chí và Lịch sử Đảng bộ các tỉnh Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, Minh Hải; lịch sử truyền thống phong trào yêu nước của đồng bào Khmer Trà Vinh; lịch sử Đảng bộ các huyện Đầm Dơi, Thốt Nốt, Ô Môn, Châu Thành, Duyên Hải, Phú Quốc, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn nhìn nhận phong trào chống phá ấp chiến lược trong bức tranh chung của toàn miền Nam hoặc dừng lại ở phạm vi một số tỉnh, huyện riêng lẻ mà chưa kết nối thành một hệ thống xuyên suốt trên địa bàn miền Tây Nam Bộ. Luận án đã kế thừa các tư liệu và phương pháp luận đi trước, tập trung lấp đầy khoảng trống về một công trình lịch sử chuyên biệt, phân tích sâu sắc các đặc trưng sông nước, tính chất đấu tranh bảo vệ văn hóa truyền thống và vai trò của khối đoàn kết Việt – Khmer tại miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1961 – 1965.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khái niệm:

  • Khái niệm “Ấp chiến lược” (ACL): Được xác định theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam là khu dồn dân ở nông thôn miền Nam do Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thiết lập từ năm 1961 nhằm tách nhân dân ra khỏi cách mạng, phục vụ chính sách bình định trong “Chiến tranh đặc biệt”. Ấp chiến lược mang tính chất cứ điểm phòng vệ, áp dụng bộ máy kiểm soát nghiêm ngặt (ngũ gia liên bảo, thanh niên vũ trang), hào rào thép gai bao bọc và canh gác ngày đêm.
  • Khái niệm “Ấp tân sinh”: Là tên gọi mới của ấp chiến lược sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (11-1963). Luận án làm rõ đây là hình thức “bình mới rượu cũ”, thay đổi hình thức rào kín sang tuần tra kiểm soát bên ngoài nhưng mục tiêu bình định, gom dân không thay đổi.
  • Khung phân tích lý luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích các hiện tượng lịch sử trong mối quan hệ nhân - quả, điều kiện kinh tế - xã hội và quy luật phát triển của chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp chủ đạo: Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để tái hiện tiến trình sự kiện theo trình tự thời gian và rút ra bản chất, quy luật vận động của phong trào.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sưu tầm, xử lý và giám định văn bản lịch sử; phương pháp điền dã thực địa tại các địa bàn nông thôn Tây Nam Bộ; phỏng vấn nhân chứng lịch sử và các cán bộ lão thành cách mạng; phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu giữa các bên tham chiến; phương pháp phân tích và tổng hợp lịch sử.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn kiện lãnh đạo của Đảng: Tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Tây Nam Bộ.
  • Tài liệu lưu trữ lịch sử: Hồ sơ, bản đồ, báo cáo hành quân, sơ đồ thiết lập ấp lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) thuộc Phủ Tổng thống Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, Bộ Công chính và Giao thông, Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Bộ Đặc nhiệm Văn hóa Xã hội; tài liệu tại Phòng Khoa học Quân khu 9 và trung tâm lưu trữ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
  • Nguồn hồi ký và điều tra thực tế: Các lời kể của nhân chứng trực tiếp tham gia chỉ huy, chiến đấu tại Quân khu 9 giai đoạn 1961 – 1965, kết hợp khảo sát dấu tích thực địa các căn cứ và ấp chiến lược cũ.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, bốn chương nội dung chính, phần Kết luận, Danh mục công trình công bố, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (25 trang)

Chương này xác định vấn đề nghiên cứu về ấp chiến lược và ấp tân sinh; điểm luận toàn diện hệ thống công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, công trình của các học giả quốc tế, các luận án, luận văn chuyên khảo và các công trình lịch sử Đảng bộ địa phương tại Tây Nam Bộ; làm rõ các cơ sở lý luận, dữ liệu mà đề tài kế thừa cũng như những nội dung khoa học cần tiếp tục đi sâu giải quyết.

Chương 2: Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1963) (66 trang)

  • Những nhân tố tác động: Phân tích điều kiện tự nhiên sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hệ thống rừng ngập mặn U Minh Thượng, U Minh Hạ tạo thành hệ thống căn cứ địa địa phương (như các làng rừng Cà Mau, căn cứ Mỹ Phước của Tỉnh ủy Sóc Trăng, căn cứ Phương Bình của Tỉnh ủy Cần Thơ). Về xã hội, miền Tây Nam Bộ là nơi cư trú của ba dân tộc chính gồm Việt, Hoa và Khmer (trong đó có hơn 300.000 đồng bào Khmer sinh hoạt tập trung tại các phum sóc, chùa chiền); phân tích truyền thống đấu tranh bất khuất từ thời chống Pháp (tiêu biểu như khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, vụ án Đồng Nọc Nạng năm 1928, Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940) và phong trào Đồng Khởi giai đoạn 1959 – 1960 (tấn công Biệt khu Bình Hưng, phá khu trù mật Vị Thanh – Hỏa Lựu).
  • Âm mưu của đối phương: Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, áp dụng chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, hạm đội nhỏ trên sông; ban hành nghị định ngày 21-12-1961 thành lập tỉnh Chương Thiện nhằm chia cắt căn cứ U Minh với Cần Thơ, dựng vành đai bảo vệ đầu não Vùng IV chiến thuật.
  • Quá trình chống phá của quân dân Tây Nam Bộ: Trình bày sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 9; phân tích bước đầu chống phá giai đoạn 1961 – 1962; cao trào hưởng ứng phong trào thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công trong năm 1963 với các chiến thắng quân sự quan trọng như Đầm Dơi – Cái Nước – Chà Là, Tam Sóc, Sen Trắng, Lộc Ninh, tạo thế hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá vỡ từng mảng ấp chiến lược.

Chương 3: Phong trào chống phá ấp chiến lược (ấp tân sinh) ở miền Tây Nam Bộ (1964 - 1965) (36 trang)

  • Sự điều chỉnh của đối phương: Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, chính quyền Sài Gòn chuyển sang chính sách “ấp tân sinh”, tái tổ chức địa bàn thành Khu chiến thuật 41 và 42 thuộc Vùng IV chiến thuật nhằm tăng cường tuần tra, gom dân có trọng điểm.
  • Phong trào chống phá phát triển mạnh mẽ: Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam, quân dân Tây Nam Bộ đẩy mạnh tiến công trong năm 1964 và năm 1965. Lực lượng vũ trang chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương và du kích đánh tiêu diệt nhiều đồn bốt, chi khu, tiêu biểu là chiến thắng Vĩnh Thuận (1964); kết hợp chặt chẽ việc phá ấp, phá thế kiềm kẹp của địch với việc củng cố chính quyền tự quản, giải phóng phần lớn nông thôn miền Tây Nam Bộ, góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

Chương 4: Một số nhận xét về phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 - 1965) (34 trang)

  • Đặc điểm của phong trào:
    • Phong trào diễn ra quyết liệt với hình thức, biện pháp đa dạng, thích ứng với địa hình sông nước miền Tây Nam Bộ.
    • Quốc sách ấp chiến lược xâm phạm cấu trúc làng xóm mở truyền thống, do đó phong trào còn mang tính chất của cuộc đấu tranh bảo vệ các giá trị văn hóa nông thôn.
    • Khối đại đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt – Khmer là nhân tố giữ vai trò quan trọng trong thắng lợi của phong trào.
  • Vai trò của phong trào: Góp phần trực tiếp đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Vùng IV chiến thuật; mở rộng vùng giải phóng, tạo địa bàn an toàn tiếp nhận vũ khí chi viện từ hậu phương miền Bắc qua các đoàn tàu không số cập bến Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau; khẳng định và hoàn thiện nghệ thuật kết hợp “ba mũi giáp công” (quân sự, chính trị, binh vận); thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa đồng bào Việt và Khmer.
  • Hạn chế và bài học kinh nghiệm: Luận án chỉ ra những lúng túng, khó khăn ban đầu khi đối phó với chiến thuật cơ động mới của đối phương; đúc kết ba bài học kinh nghiệm lịch sử: đánh giá đúng âm mưu đối phương để đề ra biện pháp thích hợp; kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công xây dựng thế trận lòng dân; phát huy vai trò của đồng bào dân tộc Khmer.

Bảng tổng hợp danh mục số liệu thống kê được luận án sử dụng:

Ký hiệu bảng Tên bảng thống kê trong văn bản luận án Nội dung phản ánh
Bảng 2.1 Thống kê ngân khoản xây dựng ấp chiến lược (1962 – 1963) Dự toán và chi phí tài chính của chính quyền Sài Gòn cho việc lập ấp
Bảng 2.2 Tổng kết công tác lập ấp chiến lược đến trung tuần tháng 4-1963 Số liệu tiến độ gom dân và xây dựng ấp trên các địa bàn
Bảng 2.3 Thống kê ấp chiến lược tính đến tháng 11-1962 Quy mô, số lượng ấp chiến lược hoàn thành trong giai đoạn đầu
Bảng 3.1 Thống kê ấp chiến lược tính đến tháng 10-1963 Thực trạng hệ thống ấp trước thời điểm chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp tình hình an ninh từ ngày 1-11-1963 đến 15-11-1963 Sự suy thoái, tan rã của hệ thống đồn bốt, ấp chiến lược sau đảo chính

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định bốn đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  • Thứ nhất, trình bày một cách có hệ thống âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong quá trình thực hiện quốc sách ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam nói chung và ở miền Tây Nam Bộ nói riêng.
  • Thứ hai, tái hiện một cách có hệ thống và toàn diện phong trào chống phá ấp chiến lược của quân và dân Tây Nam Bộ trong giai đoạn chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965) của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, làm rõ nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận.
  • Thứ ba, phân tích, làm rõ những đặc điểm nổi bật, cũng như vai trò và những hạn chế của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.
  • Thứ tư, cung cấp một số tư liệu mới, góp phần phục vụ công tác biên soạn giáo trình giảng dạy, học tập và giáo dục truyền thống lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975).

Về giải pháp và kiến nghị vận dụng: Luận án đúc kết các bài học lịch sử về củng cố thế trận lòng dân, giữ vững an ninh nông thôn, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc Kinh – Khmer, ứng dụng vào việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng tại khu vực Tây Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, đề tài được giới hạn nghiên cứu trong khung thời gian 1961 – 1965 gắn với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và phạm vi không gian 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ theo cơ cấu tổ chức kháng chiến thời kỳ này. Do đối tượng nghiên cứu tập trung vào phong trào chống phá ấp chiến lược, các hoạt động tác chiến lớn ngoài địa bàn nông thôn hoặc các giai đoạn đấu tranh chống bình định sau năm 1965 chưa nằm trong phạm vi giải quyết của luận án.

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ cơ sở dữ liệu và phương pháp luận của công trình, các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng tìm hiểu phong trào chống phá các chương trình bình định nông thôn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong giai đoạn “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) và “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1975) tại miền Tây Nam Bộ; đồng thời tiến hành các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa phong trào tại Tây Nam Bộ với các chiến trường khác như Trung Nam Bộ (Khu 8) và miền Đông Nam Bộ (Khu 7).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử Quân sự.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý văn hóa - xã hội tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long khi tìm hiểu về lịch sử địa phương, chính sách tôn giáo và công tác vận động đồng bào dân tộc Khmer.
  • Các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và các trường phổ thông trung học tại miền Tây Nam Bộ phục vụ việc tích hợp tài liệu vào chương trình giảng dạy lịch sử địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi địa bàn miền Tây Nam Bộ trong luận án bao gồm những tỉnh nào trong giai đoạn 1961 – 1965? Theo tổ chức của chính quyền cách mạng, miền Tây Nam Bộ giai đoạn này gồm 6 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (bao gồm cả Hậu Giang), Rạch Giá, Sóc Trăng (bao gồm phần lớn Bạc Liêu) và Cà Mau (bao gồm huyện Giá Rai / Đông Hải thuộc Bạc Liêu). Phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý tương ứng với các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Chương Thiện, Kiên Giang, Ba Xuyên và An Xuyên.

2. Chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Chương Thiện vào thời gian nào và nhằm mục đích gì? Ngày 21-12-1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành nghị định thành lập tỉnh Chương Thiện (tách ra từ phần đất của tỉnh Phong Dinh và Kiên Giang). Mục đích của việc lập tỉnh mới này là nhằm tăng cường bộ máy tề điệp, chia cắt sự liên lạc và chi viện từ căn cứ kháng chiến U Minh về Cần Thơ, thiết lập vành đai bảo vệ từ xa cho bộ máy Vùng IV chiến thuật tại Cần Thơ, đồng thời tạo bàn đạp tiến công vào căn cứ U Minh.

3. Bản chất của việc đổi tên từ “ấp chiến lược” thành “ấp tân sinh” sau ngày 1-11-1963 là gì? Văn bản luận án chỉ rõ việc đổi tên này thực chất là biện pháp “bình mới rượu cũ”. Sau khi chính quyền Diệm bị lật đổ, chính quyền Sài Gòn tiếp tục thực hiện mục tiêu gom dân, kiểm soát nông thôn nhưng thay đổi hình thức phòng thủ nghiêm ngặt kiểu rào kín bằng tổ chức tuần tra bên ngoài của các lực lượng vũ trang cơ động nhằm xoa dịu sự phản kháng của nông dân.

4. Khái niệm “ba mũi giáp công” trong luận án được hiểu như thế nào? “Ba mũi giáp công” là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba hình thức đấu tranh: đấu tranh quân sự (tiến công tiêu diệt đồn bốt, diệt ác trừ gian, hỗ trợ nổi dậy), đấu tranh chính trị (quần chúng trực tiếp phản đối dồn dân, đòi bồi thường, bảo vệ ruộng vườn) và binh vận (kêu gọi binh lính chính quyền Sài Gòn đào ngũ, rã ngũ hoặc quay súng về với cách mạng).

5. Vì sao sự tham gia của đồng bào Khmer lại là đặc điểm nổi bật của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ? Giai đoạn 1961 – 1965, miền Tây Nam Bộ có hơn 300.000 đồng bào Khmer sinh sống gắn bó với các phum sóc và chùa chiền. Việc chính quyền Sài Gòn cưỡng bức gom dân vào ấp chiến lược đã xâm phạm trực tiếp đời sống tâm linh, tập quán và văn hóa truyền thống của người Khmer, thúc đẩy đồng bào cùng các sư sãi đoàn kết chặt chẽ với người Việt đứng lên kiên quyết đấu tranh chống phá ấp chiến lược.

Kết luận

Luận án “Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1965)” của tác giả Phạm Đức Thuận là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, tái hiện có hệ thống quá trình quân và dân miền Tây Nam Bộ đấu tranh đánh bại quốc sách ấp chiến lược và chính sách ấp tân sinh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tác phẩm đã làm nổi bật các đặc điểm độc thù của vùng đồng bằng sông nước, nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công và vai trò của khối đoàn kết dân tộc Việt – Khmer trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những kết quả nghiên cứu và tư liệu lưu trữ trong luận án đóng góp nguồn tài liệu học thuật cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử quân sự và lịch sử địa phương Nam Bộ.