Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013) với đề tài "Quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương (1969-1973)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Sơn thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Ngọc Dung và TS. Phan Văn Hoàng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968, chính quyền Mỹ dưới sự điều hành của Tổng thống Richard Nixon bước vào Nhà Trắng đầu năm 1969 với cam kết đem lại một "nền hòa bình trong danh dự" nhằm đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền Nixon không chỉ tiếp tục chiến tranh thông qua chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (Vietnamization) thuộc khuôn khổ "Học thuyết Nixon" (Nixon Doctrine) và chiến lược toàn cầu "ngăn chặn thực tế" (Strategy of Realist Deterrence), mà còn thực hiện bước leo thang quân sự mở rộng chiến trường sang Campuchia (1970) và Lào (1971), biến cuộc chiến thành "Đông Dương hóa chiến tranh". Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là việc làm sáng tỏ một cách toàn diện bối cảnh, động cơ, bản chất hai mặt trong việc hoạch định chính sách của Nixon, cũng như phân tích nguyên nhân tại sao trong thế buộc phải rút quân, Mỹ lại tiếp tục mở rộng chiến tranh và hậu quả thực tế của quá trình này đối với các bên tham chiến.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng và giải thích có hệ thống quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương trong nhiệm kỳ của Tổng thống Nixon (1969-1973); từ đó rút ra các tác động, ảnh hưởng của quá trình này đối với nội bộ nước Mỹ, các chính quyền thân Mỹ ở Đông Dương và phong trào cách mạng của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Tác giả đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Tại sao trong bối cảnh buộc phải xuống thang chiến tranh để đi đến đàm phán hòa bình, rút quân và hồi hương những tù binh Mỹ về nước, Nixon lại đưa Mỹ và quân đội Sài Gòn vào các chiến dịch quân sự có quy mô lớn đánh sang Campuchia (1970) và Lào (1971)?
  2. Chủ trương leo thang mở rộng chiến tranh của chính quyền Nixon tác động và ảnh hưởng đến chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh như thế nào?
  3. Hành động leo thang mở rộng chiến tranh của Nixon tác động và ảnh hưởng như thế nào đến nước Mỹ và các chính quyền thân Mỹ ở Đông Dương?
  4. Phản ứng của Quốc hội Mỹ, nhân dân Mỹ và thế giới ra sao trước hành động leo thang mở rộng chiến tranh của Nixon?

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 5 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ bối cảnh lịch sử, giải thích nguyên nhân Mỹ tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam thông qua chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.
  2. Tái hiện quá trình Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970) và Lào (1971), biến chiến tranh lan rộng thành Đông Dương hóa chiến tranh.
  3. Làm rõ vai trò của Tổng thống Nixon đối với việc hình thành và thực thi chủ trương mở rộng chiến tranh giai đoạn 1969-1973.
  4. Làm sáng tỏ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong việc chia cắt ba nước Đông Dương nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam qua tuyến Đường Trường Sơn, bóp nghẹt cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam và tìm kiếm giải pháp để chính quyền, quân đội Sài Gòn tự đứng vững khi quân Mỹ rút lui.
  5. Rút ra tác động và ảnh hưởng của quá trình mở rộng chiến tranh đối với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ trong giai đoạn 1969-1973.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ giai đoạn 1969-1973, tập trung vào việc triển khai chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và quá trình leo thang mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào; vai trò của cá nhân Tổng thống Nixon trong việc ban hành các quyết định chính sách đối với ba nước Đông Dương.
  • Không gian nghiên cứu: Toàn bộ lãnh thổ ba nước Đông Dương gồm Việt Nam, Campuchia và Lào.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 20/01/1969 (thời điểm Richard Nixon tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Mỹ) đến ngày 27/01/1973 (thời điểm ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Mỹ buộc phải rút quân về nước).
  • Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử chính trị, quân sự, ngoại giao và hoạt động viện trợ kinh tế của chính quyền Mỹ tại Đông Dương giai đoạn 1969-1973.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo hai nhóm tác giả nước ngoài và tác giả trong nước:

Nhóm công trình của các tác giả nước ngoài

  • Bruce W. Jentleson (2004, 2007) trong Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI đánh giá chiến tranh Việt Nam là thất bại nặng nề nhất của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, làm tổn hại 4 mục tiêu lợi ích quốc gia: Quyền lực (Power), Hòa bình (Peace), Thịnh vượng (Prosperity) và Nguyên tắc (Principles); đồng thời nhận định Việt Nam hóa chiến tranh là hành động được tiến hành trong sự hoài nghi và hỗn loạn.
  • Daniel Ellsberg (2006) trong Những bí mật về chiến tranh Việt Nam (Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc) công bố tài liệu mật chứng minh Cố vấn Henry Kissinger mưu tính một "khoảng thời gian quá độ hợp lý" để kéo dài chiến tranh và mở rộng quy mô can thiệp; tiếp cận tài liệu Nghiên cứu An ninh Quốc gia (NSSM).
  • Gabriel Kolko (2003) trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại phân tích mối quan hệ song trùng giữa chiến tranh và ngoại giao của chính quyền Nixon - Kissinger.
  • Henry Kissinger trong Hồi ký: Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng và Trật tự thế giới (World Order, 2016) biện giải cho việc sử dụng sức mạnh quân sự nhằm đạt "hòa bình trong danh dự".
  • Jeffrey Kimball (2007) với Hồ sơ chiến tranh Việt Nam: tiết lộ lịch sử bí mật của chiến lược thời kỳ Nixon khai thác hồ sơ thành văn, băng ghi âm giải mã về chiến lược của Nixon.
  • Nguyễn Phú Đức (2009a) với Những cuộc đàm phán về hòa bình Việt Nam và Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam phản ánh quan điểm từ góc nhìn cựu cố vấn ngoại giao của chính quyền Sài Gòn.
  • Pierre Asselin (2005) trong Nền hòa bình mong manh: Washington, Hà Nội và tiến trình của Hiệp định Paris khảo sát diễn trình đàm phán ngoại giao.
  • Richard Nixon (1978, 1985) trong The Memoirs of Richard Nixon biện minh cho các chiến dịch ném bom, mở rộng chiến sự sang Campuchia, Lào và miền Bắc qua chiến dịch Linebacker I, II dưới chiêu bài "hòa bình trong danh dự" và sự ủng hộ của "số đông thầm lặng".
  • James M. McCormick (2004) trong Nước Mỹ nửa thế kỷ: Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh phân tích chính sách can thiệp với học thuyết "súng và bơ".
  • William Shawcross (1989) trong Màn phụ Kissinger, Nixon và sự tàn phá Campuchia làm rõ chiến dịch ném bom bí mật B-52 Operation Menu (3/1969) và sự can thiệp của Mỹ dẫn đến biến cố đảo chính Sihanouk (3/1970).
  • Các nghiên cứu và tài liệu khác của: Bùi Diễm, Michael D. Sallah - Mitch Weiss - Joe Mahr, Nguyen Duy Hinh, Nick Turse, Robert McNamara, Palmer (1987), Herring (1998), Cohen (1979), Currey (2014), Joyaux (1981), Meyer (1971), Fraser & Murray (2002), Shapiro (2009), Warner (1995).

Nhóm công trình của các tác giả trong nước

  • Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000) trong Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học đúc kết bản chất của Việt Nam hóa chiến tranh là sự kết hợp của 3 loại hình: chiến tranh giành dân, chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh hủy diệt.
  • Tập thể tác giả công trình Lịch sử Việt Nam 1965-1975 phân tích bối cảnh ra đời của Học thuyết Nixon và sự phối hợp chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương.
  • Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) trong Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930-2007 cung cấp tư liệu về sự chi viện trên tuyến Đường Trường Sơn (đường Tây Trường Sơn qua đất Lào) và cuộc chiến đấu chống lại 3 triệu tấn bom đạn Mỹ trên chiến trường Lào.
  • Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2011) với Lịch sử Nam Bộ kháng chiến khẳng định hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ đã biến Đông Dương thành một chiến trường thống nhất.
  • Lê Đình Chỉnh (Chủ biên, 2021) trong Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930-2020) làm rõ quan hệ liên minh chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược.
  • Nguyễn Tất Thắng và Phạm Thúy Nga (2005) trong Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phân tích quan điểm của Đại tướng về bản chất hiếu chiến của Nixon và nhận định "Việt Nam hóa chiến tranh tức là chiến tranh theo một kiểu khác".
  • Trần Văn Giàu (2006) trong Trần Văn Giàu Tổng tập (Tập IV: 1965-1975) chỉ rõ việc chuyển từ phi Mỹ hóa sang Việt Nam hóa thực chất là "đổi màu da trên xác chết" và việc mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương là sai lầm chiến lược của Nixon.
  • Viện Sử học - Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên, 2013) trong Lịch sử Việt Nam (Tập 13) trình bày những chủ trương chỉ đạo của Đảng nhằm đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.
  • Các công trình tuyển tập của Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Đại tướng Văn Tiến Dũng; các nghiên cứu của Lương Ninh (2015), Phan Văn Hoàng (2018), Lê Xung Kích (2005), Trần Đức Cường (2014), Nguyễn Quang Ngọc (2007), Nguyễn Kỳ Phong (2006), Phạm Việt Trung - Nguyễn Xuân Kỳ - Đỗ Văn Nhung (1982), Nguyễn Đình Bin (2005).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết các vấn đề chưa được khảo sát thấu đáo:

  1. Luận giải căn nguyên chính quyền Nixon tiếp tục mở rộng chiến trường sang Lào và Campuchia trong tình thế quân đội Mỹ đang phải tìm cách rút lui;
  2. Phân tích tác động ngược chiều của việc bắt quân đội Sài Gòn gánh vác chiến trường toàn Đông Dương dẫn tới sự quá tải và suy sụp nhanh chóng;
  3. Bóc trần bản chất hai mặt của chính sách ngoại giao "nước lớn" của Mỹ (hòa hoãn với Liên Xô, xích lại gần Trung Quốc) nhằm cô lập cách mạng Đông Dương và chiến thuật "vừa đánh vừa đàm" tại bàn đàm phán Paris;
  4. Chứng minh quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ vô hình trung tạo thời cơ khách quan cho lực lượng cách mạng Việt Nam phục hồi sau năm 1968 và thắt chặt liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh và chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc.
  • Khung phân tích chuyên ngành: Luận án vận dụng một số nội dung cơ bản của "Lý thuyết khu vực" (vùng địa quân sự - chính trị) trong khu vực học và nghiên cứu liên ngành để lý giải các địa bàn tác chiến chiến lược (khu vực phía Đông Campuchia, cảng Sihanoukville, tuyến hành lang vận tải chiến lược Đường Trường Sơn / Đường 9 - Nam Lào, thị trấn Tchepone, Cánh đồng Chum - Xiengkhuang).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan diễn trình lịch sử các sự kiện, chính sách, bước leo thang quân sự và ngoại giao của Mỹ tại Việt Nam, Lào, Campuchia từ năm 1953 đến 1973 (trọng tâm 1969-1973) gắn liền với bối cảnh quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
  • Phương pháp logic: Phân tích, vạch rõ mối quan hệ bản chất, nguyên nhân - kết quả giữa các sách lược của Mỹ: từ Học thuyết Nixon đến Việt Nam hóa chiến tranh, sự bế tắc chiến thuật dẫn đến Đông Dương hóa chiến tranh; phân tích quan hệ ngoại giao tam giác Mỹ - Liên Xô - Trung Quốc và mối quan hệ giữa Mỹ với các chính quyền thân Mỹ tại Sài Gòn, Phnom Penh và Vientiane.
  • Phương pháp liên ngành và khu vực học: Phân tích các yếu tố địa chính trị, vị trí địa lý quân sự của bán đảo Đông Dương.
  • Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu: Phân loại, kiểm chứng số liệu giải mật về quân số, viện trợ tài chính, số phi vụ ném bom, trọng lượng bom đạn và mức độ thiệt hại của các bên tham chiến.

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Tư liệu Đảng và Nhà nước Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, văn kiện của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng; công trình nghiên cứu và tổng kết của Viện Sử học, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
  • Tư liệu của chính quyền Sài Gòn: Hồ sơ, công văn, phúc trình, báo cáo của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh).
  • Tư liệu giải mật của phía Mỹ: Hồ sơ, báo cáo chính sách của Bộ Ngoại giao Mỹ, Bộ Quốc phòng Mỹ, Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV), Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), tài liệu Nghiên cứu An ninh Quốc gia (NSSM); hồi ký chính trị của các nhân vật chủ chốt (Richard Nixon, Henry Kissinger, Robert McNamara...).
  • Bảng từ viết tắt các tổ chức, lực lượng xuất hiện trong văn bản:
Chữ viết tắt Tên tiếng Việt Tên gốc tiếng Anh / tiếng Pháp
CIA Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ Central Intelligence Agency
FANK Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer Forces Armées Nationales Khmères
FARK Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Khmer Forces Armées Royales Khmères
FUNK Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Khmer Front Uni National Khmer
GM Binh đoàn cơ động Groupments Mobiles
GRUNK Chính phủ Đoàn kết Dân tộc Vương quốc Campuchia Gouvernement Royal d'Union Nationale du Kampuchea
MACV Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ ở Việt Nam Military Assistance Command Vietnam
SEATO Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á Southeast Asia Treaty Organization
SOG Nhóm Nghiên cứu và Quan sát Studies and Observations Group
WSAG Nhóm hành động đặc biệt Washington Washington Special Action Group

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 điểm duyệt toàn diện lịch sử nghiên cứu đề tài ở trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố đã làm rõ nguyên nhân Mỹ can thiệp và thất bại qua các chiến lược: Chiến tranh một phía (1954-1960), Chiến tranh đặc biệt (1961-1965), Chiến tranh cục bộ (1965-1968) và Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973). Tuy nhiên, các tài liệu trước đây chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống tính tất yếu và hậu quả của việc mở rộng chiến tranh sang toàn bộ ba nước Đông Dương dưới thời Nixon. Chương này xác lập cơ sở khoa học, khẳng định việc tiếp tục khai thác các tài liệu giải mật của Mỹ và tư liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn để làm sáng tỏ bản chất của quá trình Đông Dương hóa chiến tranh là hoàn toàn cần thiết.

Chương 2. Từ can thiệp vào Đông Dương đến việc hình thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ (1953-1969)

Chương 2 phục dựng tiến trình can thiệp của Mỹ vào Đông Dương từ năm 1953 đến 1969 gắn với vai trò của Richard Nixon qua các cương vị Phó Tổng thống (1953-1961), chính khách Đảng Cộng hòa (1961-1968) và Tổng thống (từ 1969):

  • Giai đoạn 1953-1961: Mỹ ủng hộ Pháp, tìm cách can thiệp Điện Biên Phủ, sau đó phá hoại Hiệp định Genève 1954. Báo cáo của CIA lúc bấy giờ khẳng định nếu tổ chức tổng tuyển cử năm 1956, có khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh; Giám đốc CIA Allen Dulles thừa nhận thắng lợi của Hồ Chí Minh là không thể ngăn cản. Mỹ gây sức ép đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng (7/1954), tổ chức "trưng cầu dân ý" phế truất Bảo Đại (10/1955) và thành lập Việt Nam Cộng hòa. Tại Lào, Mỹ can thiệp làm sụp đổ các chính phủ liên hiệp, trải qua 9 lần thay đổi nội các từ 1954 đến 1962, tăng viện trợ lên tới 830 triệu USD trong giai đoạn 1955-1965. Tại Campuchia, Mỹ bác bỏ đường lối trung lập của Norodom Sihanouk, chỉ đạo CIA và các lực lượng chống đối thực hiện các âm mưu như "Bangkok Plot" (1958), gửi bom thư mưu sát Sihanouk (8/1959), tài trợ cho Sơn Ngọc Thành lập tổ chức Khmer Tự do (Khmer Serei).
  • Giai đoạn 1961-1968: Chính quyền Kennedy và Johnson tiếp tục phá hoại Hiệp định Genève 1962 về Lào. Mỹ lập Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (SOG) ngày 24/01/1964 theo Kế hoạch OPLAN 34A; sử dụng máy bay T-28 ném bom bí mật tuyến đường Tây Trường Sơn qua Lào do Đại sứ Leonard S. Unger chỉ huy; xây dựng "lực lượng đặc biệt" người H'mong gồm 17.000 quân do Vàng Pao chỉ huy.
  • Giai đoạn 1969: Sau đòn tấn công Tết Mậu Thân 1968 của quân dân cách mạng Việt Nam, Nixon lên cầm quyền công bố "Học thuyết Nixon" tại Guam (7/1969) và triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Tuy nhiên, việc vận chuyển nhân lực, vật lực của hậu phương miền Bắc qua tuyến Đường Trường Sơn (chạy qua Lào và Campuchia) cùng việc tiếp nhận hàng viện trợ qua cảng Sihanoukville đã tạo thành thách thức sống còn đối với Mỹ, buộc Nixon phải tính đến phương án tiến công sang Campuchia và Lào.
Giai đoạn / Địa bàn Hành động và sự kiện then chốt của Mỹ Mục tiêu chiến lược
Việt Nam (1954-1956) Dựng chính quyền Ngô Đình Diệm; cự tuyệt Tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève 1954. Ngăn chặn làn sóng cách mạng, chia cắt lâu dài Việt Nam.
Lào (1954-1965) Viện trợ 830 triệu USD; 9 lần tác động đổi chính phủ; lập lực lượng Vàng Pao (17.000 quân). Phá vỡ chính phủ liên hiệp, chặn hành lang Tây Trường Sơn.
Campuchia (1955-1959) Ép Sihanouk vào SEATO; tiến hành Bangkok Plot (1958) và vụ mưu sát bằng bom thư (1959). Xóa bỏ nền trung lập của Campuchia, dựng phe phái thân Mỹ.
Đông Dương (1969) Ban hành Học thuyết Nixon, khởi động "Việt Nam hóa chiến tranh". Rút quân Mỹ, chuyển gánh nặng xương máu cho quân đội Sài Gòn.

Chương 3. Mỹ với quá trình mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương (1969-1973)

Chương 3 trình bày chi tiết các hành động quân sự leo thang công khai và bí mật của Mỹ trên toàn bán đảo Đông Dương:

  • Chiến trường Campuchia (1969-1973): Bắt đầu bằng chiến dịch ném bom bí mật B-52 Operation Menu (tháng 3/1969); Mỹ giật dây Lon Nol - Sirik Matak đảo chính Sihanouk (18/3/1970); đưa quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ồ ạt tiến công công khai sang Campuchia từ ngày 29/4/1970 đến 30/6/1970 nhằm triệt phá cơ quan đầu não và "đất thánh" của cách mạng miền Nam; tiếp tục yểm trợ không quân cho quân đội Sài Gòn và quân đội Lon Nol (FANK) từ 30/6/1970 đến 15/8/1973; triển khai chiến dịch ném bom rải thảm Operation Freedom Deal (19/5/1970 - 15/8/1973).
  • Chiến trường Lào (1969-1973): Đẩy mạnh "Chiến tranh đặc biệt tăng cường", tăng cường ném bom hủy diệt; dùng không quân và pháo binh yểm trợ quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân quy mô lớn Lam Sơn 719 (đầu năm 1971) đánh vào Đường 9 - Nam Lào hướng tới mục tiêu then chốt là thị trấn Tchepone hòng cắt đứt tuyến chi viện Trường Sơn.
  • Leo thang phối hợp quân sự và ngoại giao: Sau thất bại nặng nề tại Lam Sơn 719 và cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân dân ta, Mỹ thực hiện chính sách ngoại giao "nước lớn" (hòa hoãn Liên Xô, tiếp cận Trung Quốc) nhằm cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Mỹ "Mỹ hóa trở lại" cuộc chiến bằng không quân và hải quân qua chiến dịch Linebacker I và Linebacker II (cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm bằng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12/1972). Thất bại trong trận "Điện Biên Phủ trên không" đã đập tan nỗ lực cứu vãn vị thế đàm phán của Nixon, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/01/1973 và sau đó là Hiệp định Vientiane về Lào (1973).

Chương 4. Tác động và ảnh hưởng của quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương (1969-1973)

Chương 4 phân tích các hệ quả toàn diện từ hành động leo thang của chính quyền Nixon:

  • Đối với nội bộ nước Mỹ: Làm bùng nổ làn sóng phản chiến rộng khắp của các tầng lớp sinh viên, thanh niên, công nhân và các cựu chiến binh Mỹ; gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ chính giới và Quốc hội Mỹ, làm suy giảm nghiêm trọng uy tín quốc tế và sức mạnh kinh tế - xã hội của Mỹ.
  • Đối với chính quyền và quân đội Sài Gòn: Việc bị đẩy ra tác chiến trên cả ba mặt trận Việt Nam, Lào, Campuchia đã làm quân đội Sài Gòn bị phân tán lực lượng, chịu tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, suy sụp tinh thần chiến đấu và mất khả năng tự đứng vững khi quân viễn chinh Mỹ rút đi.
  • Đối với mặt trận ngoại giao: Làm bộc lộ tính chất ngoan cố, lật lọng của chính quyền Nixon trong chiến thuật "vừa đánh vừa đàm", nhưng cuối cùng Mỹ vẫn không thể thay đổi được các điều khoản căn bản của Hiệp định Paris.
  • Đối với phong trào cách mạng ba nước Đông Dương: Hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ đã tạo điều kiện khách quan để lực lượng cách mạng Việt Nam củng cố bàn đạp chiến lược, khôi phục thế và lực sau Tết Mậu Thân 1968; đồng thời gắn kết chặt chẽ ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia thành một liên minh chiến đấu thống nhất, cùng đánh bại các kế hoạch quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lịch sử

Theo tự công bố của luận án, công trình đạt được các điểm đóng góp mới cụ thể:

  1. Luận giải và làm sáng tỏ nguyên nhân, mục tiêu cốt lõi của chính quyền Mỹ khi chuyển dịch từ chủ trương "phi Mỹ hóa chiến tranh" sang "Việt Nam hóa chiến tranh" sau năm 1968; vạch rõ âm mưu tìm kiếm một "nền hòa bình trong danh dự" nhằm che giấu thất bại quân sự không thể tránh khỏi.
  2. Làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử và tính chất phi thực tế của việc chuyển giao toàn bộ gánh nặng tác chiến từ quân đội viễn chinh Mỹ sang quân đội Sài Gòn trên quy mô toàn chiến trường Đông Dương giai đoạn 1969-1973.
  3. Phân tích rõ âm mưu và bước đường cùng của Mỹ khi phải "Mỹ hóa" trở lại cuộc chiến thông qua hai chiến dịch ném bom quy mô lớn Linebacker I và II đánh phá miền Bắc Việt Nam.
  4. Bóc trần bản chất hai mặt của chính sách ngoại giao "nước lớn" của Mỹ trong việc hòa hoãn với Liên Xô và xích lại gần Trung Quốc nhằm cô lập phong trào kháng chiến của nhân dân Đông Dương, kết hợp chiến thuật trì hoãn, giằng dai tại Hội nghị Paris.
  5. Chứng minh một cách khoa học rằng việc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương đã tạo thời cơ chiến lược cho lực lượng cách mạng miền Nam phục hồi lực lượng sau Mậu Thân 1968, thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu liên minh ba nước Đông Dương, đưa chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đến bờ vực phá sản hoàn toàn và buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/01/1973 để rút quân về nước.

Ý nghĩa thực tiễn và bài học lịch sử

  • Luận án đúc kết bài học lịch sử về quan hệ liên minh đặc biệt giữa ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia trước các âm mưu chia rẽ của các thế lực đế quốc; khẳng định khối đoàn kết này là tài sản quý báu cần tiếp tục được gìn giữ, phát huy trong bối cảnh quốc tế hiện đại.
  • Cung cấp nguồn tài liệu khoa học được kiểm chứng từ các hồ sơ giải mật của phía Mỹ (CIA, Lầu Năm Góc, MACV) và hồ sơ lưu trữ của chính quyền Sài Gòn phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử quân sự và lịch sử ngoại giao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát quá trình hoạch định và thực thi chính sách mở rộng chiến tranh của chính quyền Nixon trong khung thời gian giới hạn từ 20/01/1969 đến 27/01/1973 (thời điểm ký kết Hiệp định Paris). Các diễn biến tiếp theo về sự sụp đổ hoàn toàn của các chính thể thân Mỹ tại Đông Dương trong giai đoạn 1973-1975 chỉ được phản ánh như hệ quả logic chứ không thuộc trọng tâm phân tích sâu của văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục khảo cứu sâu hơn các nguồn tư liệu giải mật bổ sung của các bên liên quan sau năm 1973 để đánh giá toàn diện giai đoạn kết thúc chiến tranh (1973-1975) trên toàn bán đảo Đông Dương;
    • Mở rộng hướng tiếp cận liên ngành xã hội học quân sự và kinh tế chính trị về tác động dài hạn của các chiến dịch ném bom hủy diệt đối với môi trường và cư dân ba nước Đông Dương.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Lịch sử Quan hệ Quốc tế và Lịch sử Quân sự; cung cấp góc nhìn hệ thống về sự tương tác giữa chiến trường quân sự và bàn đàm phán ngoại giao.
  • Cán bộ nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách đối ngoại: Cung cấp tư liệu thực chứng về phương thức điều hành chính sách ngoại giao "nước lớn", các thủ đoạn đàm phán quốc tế và kinh nghiệm xây dựng quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam với hai nước láng giềng Lào và Campuchia.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu giải mật của Mỹ (hồ sơ NSSM, tài liệu CIA, Lầu Năm Góc) tại Chương 2 và Chương 3, cùng các phân tích về sự sụp đổ của tuyến phòng thủ Đường 9 - Nam Lào trong chiến dịch Lam Sơn 719.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chính quyền Nixon quyết định mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970) và Lào (1971) dù đang chịu áp lực rút quân?
Mỹ mở rộng chiến tranh nhằm mục tiêu triệt phá các cơ quan đầu não, căn cứ hậu cần ("đất thánh") của cách mạng Việt Nam, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Đường Trường Sơn (chạy qua Lào và Campuchia) và phong tỏa cảng tiếp nhận viện trợ Sihanoukville. Mục đích sâu xa là làm suy yếu lực lượng cách mạng miền Nam, tạo khoảng đệm an toàn để quân đội Sài Gòn có thể tự gánh vác chiến trường, giúp Mỹ rút quân viễn chinh về nước mà vẫn giữ được chính quyền thân Mỹ.

2. Chiến dịch ném bom bí mật đầu tiên của Mỹ xuống Campuchia dưới thời Nixon có tên là gì?
Đó là chiến dịch ném bom rải thảm bí mật bằng máy bay B-52 mang tên Operation Menu (Chiến dịch Thực đơn), được Nixon bí mật phát động vào tháng 3/1969. Sau đó, các cuộc ném bom công khai tiếp tục được tiến hành qua chiến dịch Operation Freedom Deal (19/5/1970 - 15/8/1973).

3. Chiến dịch quân sự quy mô lớn nhất của quân đội Sài Gòn đánh sang lãnh thổ Lào năm 1971 có tên gọi là gì và tập trung vào địa bàn nào?
Đó là cuộc hành quân Lam Sơn 719 diễn ra vào đầu năm 1971 do quân đội Sài Gòn thực hiện với sự yểm trợ tối đa của không quân và hỏa lực Mỹ, tập trung đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào với mục tiêu then chốt là đánh chiếm thị trấn Tchepone.

4. Chính sách ngoại giao "nước lớn" của chính quyền Nixon trong giai đoạn 1969-1973 nhằm mục đích gì?
Nixon và Kissinger chủ trương thực hiện hòa hoãn với Liên Xô và xích lại gần Trung Quốc nhằm khoét sâu mâu thuẫn Xô - Trung, hạn chế sự chi viện quốc tế cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, cô lập phong trào cách mạng ba nước Đông Dương, đồng thời tạo áp lực ngoại giao buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải nhượng bộ tại bàn đàm phán Paris.

5. Việc mở rộng chiến tranh tác động như thế nào đến khả năng tự đứng vững của quân đội Sài Gòn?
Việc mở rộng chiến tranh khiến quân đội Sài Gòn phải căng mình trên cả ba chiến trường (Việt Nam, Campuchia, Lào). Lực lượng bị dàn mỏng, gánh chịu thiệt hại nặng nề về người và phương tiện chiến tranh tại các chiến dịch lớn (như Lam Sơn 719), dẫn đến suy sụp tinh thần chiến đấu nghiêm trọng và đẩy chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đến chỗ phá sản hoàn toàn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Sơn đã phục dựng một cách chân thực và có hệ thống quá trình Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương dưới thời Tổng thống Richard Nixon giai đoạn 1969-1973. Bằng việc kết hợp chặt chẽ các nguồn sử liệu giải mật của Mỹ, tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn và văn kiện lãnh đạo của Đảng, công trình đã luận giải sâu sắc bản chất hiếu chiến, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của giới cầm quyền Mỹ, vạch rõ nguyên nhân phá sản của chiến lược Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh. Đồng thời, luận án khẳng định quy luật tất yếu về sức mạnh của khối đại đoàn kết chiến đấu ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia là nhân tố quyết định đưa tới thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973, mở đường cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn bán đảo Đông Dương.