Quá Trình Mở Rộng Chiến Tranh Của Mỹ Ra Toàn Đông Dương (1969-1973)

Tài liệu nghiên cứu Quá trình mở rộng chiến tranh của mỹ ra toàn đông dương 1969 1973, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

240
19
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mở Rộng Chiến Tranh Mỹ Ở Đông Dương 1969 1973

Từ sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ can thiệp sâu vào Việt Nam, ủng hộ Ngô Đình Diệm phá hoại hiệp thương thống nhất. Miền Nam Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Mỹ, trải qua các đời Tổng thống Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon. Sau khi thắng cử năm 1968, Nixon tìm cách thoát khỏi Chiến tranh Việt Nam bằng "nền hòa bình trong danh dự". Ông đề ra Học thuyết Nixon, chiến lược "ngăn chặn thực tế" và Việt Nam hóa chiến tranh. Tuy nhiên, chính quyền Nixon không những tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam, mà còn mở rộng sang Campuchia (1970) và Lào (1971), làm chiến tranh lan rộng ra toàn Đông Dương. Hành động này đặt ra nhiều câu hỏi về động cơ và tác động của việc leo thang chiến tranh.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương

Sau Hiệp định Geneva, Mỹ lo ngại về nguy cơ Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến khu vực. Tổng thống Eisenhower đã ủng hộ Ngô Đình Diệm, từ đó can thiệp sâu vào Đông Dương. Diệm đã phá hoại hiệp thương tổng tuyển cử, đưa miền Nam Việt Nam vào quỹ đạo của Mỹ. Sự can thiệp này kéo dài qua nhiều đời tổng thống, dẫn đến sự leo thang của Chiến tranh Việt Nam.

1.2. Học thuyết Nixon và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh

Học thuyết Nixon ra đời như một giải pháp để Mỹ thoát khỏi Chiến tranh Việt Nam bằng “nền hòa bình trong danh dự”. Chiến lược toàn cầu "ngăn chặn thực tế" và Việt Nam hóa chiến tranh được đưa ra. Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược này gặp nhiều khó khăn. Thay vì giảm bớt sự can dự, Nixon lại quyết định mở rộng chiến tranh sang các nước láng giềng CampuchiaLào.

II. Thách Thức Cho Mỹ Mở Rộng Chiến Tranh Ra Đông Dương

Trong bối cảnh buộc phải xuống thang chiến tranh, Nixon lại đưa quân vào các chiến dịch lớn ở CampuchiaLào. Câu hỏi đặt ra là tại sao Nixon lại leo thang khi đang đàm phán hòa bình, rút quân và giải cứu tù binh? Liệu Việt Nam hóa chiến tranh có bị ảnh hưởng bởi hành động này? Và hành động đó sẽ tác động đến Mỹ, chính quyền thân Mỹ, và phản ứng của dư luận quốc tế ra sao? Để giải đáp những câu hỏi này, luận án tập trung vào quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương (1969-1973).

2.1. Vai trò của Đường Trường Sơn và cảng Sihanoukville

Một trong những lý do chính để Mỹ mở rộng chiến tranh là nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược Đường Trường Sơn. Tuyến đường này đi qua LàoCampuchia, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Ngoài ra, cảng SihanoukvilleCampuchia cũng được sử dụng để vận chuyển hàng hóa quân sự, khiến Mỹ lo ngại và quyết định can thiệp.

2.2. Âm mưu chia cắt Đông Dương và ngăn chặn chi viện

Mỹ tìm cách chia cắt các nước Đông Dương để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Việc mở rộng chiến tranh sang CampuchiaLào là một phần trong kế hoạch này. Mỹ hy vọng có thể bóp nghẹt cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam và giúp chính quyền Sài Gòn tự đứng vững. Đồng thời tạo tiền đề cho việc Mỹ rút quân dần khỏi Việt Nam.

III. Cách Mỹ Mở Rộng Chiến Tranh Sang Campuchia 1969 1973

Mỹ thực hiện mở rộng chiến tranh sang Campuchia từ 1969-1973, bắt đầu bằng các hoạt động quân sự bí mật, lực lượng thám báo biệt kích. Sau đó là chiến dịch Menu ném bom bí mật. Cuộc Đảo chính Sihanouk dựng lên chính quyền Lon Nol, được Mỹ viện trợ để chống phá cách mạng. Mỹ công khai mở các chiến dịch quân sự phối hợp với quân đội Sài Gòn sang Campuchia, yểm trợ các chiến dịch quân sự phối hợp giữa quân đội Sài Gòn và FANK. Tiếp tục ném bom Campuchia theo chiến dịch Thỏa thuận Tự do (Operation Freedom Deal) từ ngày 19/5/1970 đến 15/8/1973.

3.1. Các hoạt động quân sự bí mật chống Campuchia

Trước khi công khai đưa quân vào Campuchia, Mỹ đã tiến hành nhiều hoạt động bí mật. Các hoạt động này bao gồm việc sử dụng lực lượng thám báo biệt kích để thu thập thông tin và phá hoại. Đặc biệt, Chiến dịch Menu là một loạt các cuộc ném bom bí mật nhằm vào các căn cứ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trên đất Campuchia.

3.2. Đảo chính Lon Nol và viện trợ của Mỹ

Cuộc đảo chính lật đổ Sihanouk và đưa Lon Nol lên nắm quyền là một bước ngoặt quan trọng. Mỹ đã viện trợ cho chính quyền Lon Nol để chống lại lực lượng cách mạng. Sự can thiệp này đã làm gia tăng sự bất ổn ở Campuchia và leo thang cuộc chiến tranh.

3.3. Các chiến dịch quân sự phối hợp Mỹ Sài Gòn tại Campuchia

Sau đảo chính, Mỹ công khai mở các chiến dịch quân sự sang Campuchia, phối hợp với quân đội Sài Gòn. Mục tiêu là tiêu diệt các căn cứ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và hỗ trợ chính quyền Lon Nol. Các chiến dịch này gây ra nhiều thiệt hại cho cả dân thường và quân đội.

IV. Mỹ Mở Rộng Chiến Tranh Sang Lào Chiến Lược Hành Động

Từ năm 1969-1973, Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào, củng cố chính quyền và lực lượng vũ trang phái hữu. Mỹ thực hiện Chiến tranh đặc biệt tăng cường và các chiến dịch ném bom bí mật trên lãnh thổ Lào. Mỹ yểm trợ chính quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Lào. Sau thất bại của chiến dịch Lam Sơn 719, Mỹ tiếp tục leo thang chiến tranh, phối hợp leo thang chiến tranh và ngoại giao. Sau Hiệp định Paris và Vientiane năm 1973, Mỹ có những động thái mới.

4.1. Chiến tranh đặc biệt tăng cường và ném bom bí mật ở Lào

Mỹ tăng cường Chiến tranh đặc biệtLào, sử dụng lực lượng địa phương để chống lại Pathet Lào. Đồng thời, Mỹ tiến hành các chiến dịch ném bom bí mật, gây ra nhiều thiệt hại cho cơ sở hạ tầng và dân thường. Mục tiêu là cắt đứt tuyến chi viện của Quân đội Nhân dân Việt Nam cho miền Nam.

4.2. Chiến dịch Lam Sơn 719 và thất bại của Mỹ

Chiến dịch Lam Sơn 719 là một nỗ lực lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm đánh chiếm Tchepone, một thị trấn quan trọng trên Đường 9. Tuy nhiên, chiến dịch này đã thất bại, gây ra nhiều tổn thất cho cả hai bên và làm suy yếu Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

4.3. Ngoại giao nước lớn và các động thái sau Hiệp định Paris

Trong quá trình leo thang chiến tranh, Mỹ cũng sử dụng chính sách ngoại giao "nước lớn", tìm kiếm sự ủng hộ của Liên XôTrung Quốc. Sau khi ký Hiệp định Paris và Vientiane năm 1973, Mỹ có những động thái mới, tập trung vào việc hỗ trợ các chính quyền thân Mỹ ở Đông Dương.

V. Tác Động Của Mở Rộng Chiến Tranh Mỹ Ra Đông Dương

Việc mở rộng chiến tranh tác động đến nhiều mặt: Phong trào phản chiến bùng nổ và lan rộng trên khắp nước Mỹ, nội bộ chính giới Mỹ bị chia rẽ sâu sắc vì chiến tranh. Nội bộ chính quyền Sài Gòn ngày càng mâu thuẫn sâu sắc, quân đội Sài Gòn suy sụp tinh thần và mất khả năng chiến đấu. Tình đoàn kết, chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia thêm thắt chặt để chống lại âm mưu chia cắt Đông Dương của Mỹ.

5.1. Phong trào phản chiến và chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ

Việc mở rộng chiến tranh đã làm gia tăng sự phản đối trong nước Mỹ. Phong trào phản chiến bùng nổ, với sự tham gia của sinh viên, công nhân và thậm chí cả quân nhân Mỹ. Nội bộ chính giới cũng bị chia rẽ sâu sắc, với nhiều người chỉ trích chính sách chiến tranh của Richard Nixon.

5.2. Suy yếu của chính quyền và quân đội Sài Gòn

Chiến tranh lan rộng đã làm suy yếu chính quyền Sài Gòn. Nội bộ chính quyền ngày càng mâu thuẫn, tham nhũng lan tràn. Quân đội Sài Gòn suy sụp tinh thần và mất khả năng chiến đấu, phụ thuộc ngày càng nhiều vào sự hỗ trợ của Mỹ. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh thất bại.

5.3. Tình đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương

Đối mặt với sự can thiệp của Mỹ, nhân dân ba nước Việt Nam, LàoCampuchia đã tăng cường đoàn kết, chiến đấu chống lại kẻ thù chung. Tình đoàn kết này là một yếu tố quan trọng giúp các nước Đông Dương giành thắng lợi cuối cùng.

VI. Bài Học Từ Mở Rộng Chiến Tranh Kết Luận Tương Lai

Quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương là một thất bại lớn. Việt Nam hóa chiến tranh phá sản, Mỹ phải ký Hiệp định Paris và rút quân. Bài học rút ra là không thể giải quyết các vấn đề chính trị bằng quân sự, và sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Trong bối cảnh hiện nay, bài học này vẫn còn giá trị.

6.1. Thất bại của Việt Nam hóa chiến tranh và Hiệp định Paris

Việc mở rộng chiến tranh không những không cứu vãn được tình hình, mà còn làm cho Việt Nam hóa chiến tranh thất bại. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris và rút quân, chấm dứt sự can thiệp trực tiếp vào Chiến tranh Việt Nam.

6.2. Bài học về sự can thiệp và hậu quả chiến tranh

Sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương đã gây ra nhiều đau khổ và mất mát cho nhân dân ba nước. Bài học rút ra là không nên can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, và cần giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

6.3. Ứng dụng bài học trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, với nhiều xung đột và tranh chấp, bài học từ Chiến tranh Việt Nam vẫn còn giá trị. Cần tránh xa các hành động can thiệp và tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Từ can thiệp vào Đông Dương đến việc hình thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ (1953-1969) Chương 3. Mỹ với quá trình mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương (1969-1973) Chương 4.

Tác động và ảnh hưởng của quá trình mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương (1969-1973) Kết luận Tài liệu tham khảo Các công trình có liên quan đến đề tài được công bố Phụ lục 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU --- 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương hứa hẹn sẽ đem lại hòa bình, độc lập và thống nhất cho ba dân tộc Đông Dương: Việt Nam-Lào-Campuchia. Thế nhưng, trong suốt 19 năm sau đó (1954-1973), với bốn đời Tổng thống liên tiếp: Eisenhower, Kennedy, Johnson và Nixon, Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, xâm lược miền Nam, gây chiến tranh phá hoại miền Bắc âm mưu chia cắt Việt Nam. Vào đầu năm 1969, trở thành Tổng thống, Nixon đề ra “Học thuyết Nixon”, chiến lược toàn cầu “ngăn chặn thực tế” và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Sau đó, Mỹ từng bước leo thang mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970) và Lào (1971), chiến tranh lan rộng trở thành Đông Dương hóa chiến tranh. Quá trình leo thang mở rộng chiến tranh của Mỹ ra toàn Đông Dương (1969-1973) trở thành đề tài cho những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài Đây là những công trình nghiên cứu mang tầm quốc gia, những công trình này giúp người nghiên cứu khai thác nguồn tài liệu có liên quan đến chính sách của Mỹ ở Đông Dương giai đoạn 1969-1973. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI.

Tác phẩm gồm hai phần, 10 chương với 500 trang, được biên soạn như một giáo trình về chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Phần có liên quan đến đề tài nằm ở Chương V: Bối cảnh chiến tranh lạnh: Những bài học và di sản. Tác giả cho rằng: “Chiến tranh Việt Nam: là thất bại nặng nề nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh. Nó đã nhấn chìm bốn mục tiêu then chốt dùng để xác định lợi ích quốc gia của Mỹ, gồm: Quyền lực (Power), Hòa bình (Peace), Thịnh vượng (Prosperity) và Nguyên tắc (Principles).

Đối với chiến lược, chính sách ngoại giao của Mỹ, thất bại này đã thể hiện trên tất cả các khía cạnh: hòa bình đã không đạt được, sức mạnh bị hao mòn, những nguyên tắc bị vi phạm, sự thịnh vượng bị tổn hại” (Jentleson, 2007, tr. 10 Nói về Việt Nam hóa chiến tranh, tác giả cho rằng: “Đó là một hành động trong nghi ngờ và bị công kích bởi sự hoài nghi đã được tiến hành trong hỗn loạn, nhưng vẫn được tiến hành”. Quan điểm này của Jentleson làm cho những ai nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1969-1973, không thể không đặt ra câu hỏi là: tại sao, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, sản phẩm của bộ đôi chính khách có nhiều trải nghiệm trên chính trường là Tổng thống Nixon và Cố vấn Kissinger lại bị hoài nghi và được tiến hành trong sự hỗn loạn? Và tại sao nó vẫn phải tiến hành? Câu hỏi này, cần được người nghiên cứu đi sau giải thích và tiếp tục làm sáng tỏ hơn trong đề tài nghiên cứu của mình. Những bí mật về chiến tranh Việt Nam (Hồi ức về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc).

Sau ba năm tham chiến ở Việt Nam, năm 1967, Daniel Ellsberg trở về Mỹ và làm việc trong nhóm nghiên cứu tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara. Trên cương vị của mình, Ellsberg tiếp xúc với nhiều nguồn tài liệu tối mật của chính quyền Mỹ. Ông đã sao chụp 7000 trang tài liệu tối mật (gồm 4000 trang tư liệu gốc và 3000 trang phân tích từ năm 1969 đến 1970). Ngày 13/6/1971, Ellsberg quyết định công bố các tài liệu này trên tờ The New York Times.

Ở Việt Nam, nguồn tài liệu này được Nhà xuất bản Công an Nhân dân phát hành gồm 32 chương với 712 trang. Trong đó, phần liên quan đến đề tài bắt đầu từ Chương 14 trở đi (trang 348 đến 692). Trong 18 chương có liên quan đến đề tài, với nguồn tài liệu được giải mật đã phơi bày toàn bộ âm mưu, thủ đoạn chính trị của giới cầm quyền Mĩ trong chiến tranh Việt Nam. Xin trích dẫn ra đây một vài luận điểm được ghi trong tập tài liệu như sau: “Vào tháng 1/1969, sau khi được chọn làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho chính quyền của Tổng thống Nixon, Kissinger cho đăng một bài viết trên tờ Newsweek với nhan đề: “Đàm phán về Việt Nam” (Negotiations on Vietnam).

Cuối bài, Kissinger lý giải công khai, chi tiết những lập luận riêng trước đây của ông cho quá trình tìm kiếm một khoảng “thời gian quá độ hợp lý” trước khi lực lượng cách mạng tiếp quản Sài Gòn. Điều này là ngụy biện và giả tạo, bởi vì, chừng nào Nixon và Kissinger còn đương nhiệm, cả hai không bao giờ chấp nhận để Sài Gòn thất bại rồi sụp đổ và nằm dưới quyền kiểm soát của lực lượng cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Còn khoảng “thời gian quá độ hợp lý” mà Kissinger nói đến, chính là việc ông ta sẵn sàng 11 kéo dài chiến tranh vô thời hạn mà còn mở rộng qui mô của cuộc chiến tranh” (Ellsberg, 2006, tr. Như vậy, phải chăng việc chính quyền Nixon chọn Việt Nam hóa thay cho phi Mỹ hóa là để kéo dài chiến tranh “vô thời hạn” và còn mở rộng qui mô của cuộc chiến tranh? Vấn đề này, sẽ được người nghiên cứu làm sáng tỏ trong đề tài của mình.

Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu An ninh Quốc gia trong giai đoạn cầm quyền của Nixon (ký hiệu là NSSM) gồm 500 trang cũng được giải mã và đề cập đến. Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại. Với 686 trang gồm sáu phần và 41 chương cùng phần kết luận. Trong đó, nội dung đề cập đến chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1969-1975, nằm ở Phần V và VI của tác phẩm gồm 15 chương (Chương 27 đến 41, trang từ 397 đến 642).

Trong 15 chương có liên quan đến chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1969-1975, tác giả tập trung vào hai vấn đề chính yếu là chiến tranh-ngoại giao và kết thúc chiến tranh. Dưới góc nhìn của tác giả, chiến tranh Việt Nam đã đẩy Mĩ vào sự đối đầu không chỉ ở Việt Nam mà với cả thế giới, do đó, Mỹ phải tiến hành song trùng hai cuộc chiến tranh ngoại giao và chiến trường. Theo tác giả, trong bối cảnh chính quyền Mỹ phải chịu nhiều sức ép về việc phải chấm dứt sự dính líu, nhưng Nixon vẫn tiếp tục “leo thang và Việt Nam hóa” song song với những hoạt động ngoại giao quốc tế, đây thực sự là một việc ảo tưởng không đi vào chủ nghĩa thực tế và trung thực: “Đứng trước những sự lựa chọn bị thu hẹp và tài sản bị hạn chế, chính quyền Nixon không đi vào một chủ nghĩa thực tế trung thực để có một sức mạnh tổng hợp trong và ngoài nước nhằm bảo vệ lợi ích của mình, mà đi vào thỏa mãn những mong muốn và giả định hão huyền từng làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Mĩ sau chiến tranh. hai người quan trọng nhất làm ra chính sách của chính quyền là Nixon và Kissinger có đủ ảo vọng để làm cho mỗi bước đi trong quá trình trở nên đẫm máu và đau đớn một cách khủng khiếp cho toàn bộ đất nước Việt Nam và một phần nhỏ hơn.

Nhìn tổng thể, Việt Nam hóa và leo thang mở rộng chiến tranh cùng sức tàn phá khủng khiếp mà nó gây ra cho nhân dân ba nước Đông Dương thì đó không phải là hão huyền hay phi thực tế. Ngược lại, đây là âm mưu đã được lường định của Nixon và Kissinger nhằm đạt được một “nền hòa bình trong danh dự”, và đồng thời vẫn bảo vệ được chế độ Sài Gòn đứng vững mà không có sự tồn tại của “cộng sản”. Quan điểm 12 này, cần được người nghiên cứu làm sáng tỏ hơn trong đề tài nghiên cứu của mình giai đoạn 1969-1973. Henry Kissinger, trong vai trò cố vấn, đồng thời là một công trình sư cho chính sách về chiến tranh và hòa bình của chính quyền Nixon và cả Ford sau này.

Liên quan đến đề tài nghiên cứu có các tác phẩm sau đây của Henry Kissinger: Henry Kissinger. Hồi ký: Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Tập hồi ký gồm ba phần tổng cộng 899 trang, trong đó, phần nội dung có liên quan trực tiếp đến đề tài nằm ở Phần II và III (1969-1971), trang 157 đến 889. Trong hai phần này, tác giả trình bày con đường chính trị của Nixon, từ một chính trị gia đến ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa và sau đó trở thành Tổng thống.

Theo tác giả, khi trở thành Tổng thống, Nixon tìm cách đưa nước Mỹ ra khỏi chiến tranh Việt Nam bằng một “nền hòa bình trong danh dự”, Nixon đề ra “Học thuyết Nixon” (Nixon Doctrine) và chiến lược toàn cầu “ngăn chặn thực tế” (Strategy of Realist Deterrence). Đối với Việt Nam, Nixon đề ra chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization), sau đó, từng bước leo thang mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970) và Lào (1971), chiến tranh lan rộng trở thành Đông Dương hóa chiến tranh. Phải chăng những chính sách mà Nixon thực hiện ở Đông Dương là đem lại “hòa bình” và “danh dự” cho nước Mỹ trong một cuộc chiến tranh kéo dài và không thể giành được chiến thắng bằng quân sự ở Việt Nam? Tất cả những vấn đề này sẽ được người nghiên cứu làm sáng tỏ trong đề tài nghiên cứu của mình. Trật tự thế giới (World Order).

Tác phẩm gồm IX chương và phần kết luận, tổng cộng 471 trang, phần đề cập đến chiến tranh Việt Nam chủ yếu nằm ở Chương VIII (trang 365 đến 418). Kissinger nói: “Yếu tố thứ hai của một nền hòa bình bền vững phải là sức mạnh của Mỹ. Chúng ta đã học được, hòa bình không thể đạt được chỉ với thiện chí. Phải chăng vì điều này, Mỹ quyết tâm theo đuổi đến cùng mục tiêu: “Ta phải trả cùng một cái giá khi làm một việc gì đó nửa vời cũng giống như khi ta làm nó tới cùng.

Vậy thì, ta cứ hãy làm việc đó tới cùng” (Kissinger, 2016, tr. Phải chăng từ quan điểm này, Nixon và Kissinger quyết tâm đi đến cùng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời leo thang mở rộng chiến tranh sau Mậu Thân 1968?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mở Rộng Chiến Tranh Của Mỹ Tại Đông Dương (1969-1973)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về giai đoạn quan trọng trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, khi Mỹ mở rộng can thiệp quân sự tại Đông Dương. Tài liệu phân tích các chiến lược quân sự, chính trị và xã hội của Mỹ trong bối cảnh cuộc chiến tranh, đồng thời nêu bật những tác động của nó đến tình hình khu vực và nhân dân Việt Nam. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách mà các chiến lược này đã hình thành và ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ báo nhân dân với công tác tuyên truyền chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam 1961-1965, nơi cung cấp cái nhìn về các chiến lược tuyên truyền chống lại sự can thiệp của Mỹ. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn phong trào chiến tranh du kích từ năm 1965 đến năm 1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn này. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ lịch sử phong trào nhân dân thế giới phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam 1954-1975 nghiên cứu trường hợp một số nước Tây Âu sẽ mang đến cái nhìn toàn diện về sự phản đối của cộng đồng quốc tế đối với cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về bối cảnh lịch sử phức tạp này.