Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Chính sách và chính sách công Chính sách là sản phẩm của quá trình ra quyết định lựa chọn các vấn đề, mục tiêu và giải pháp để giải quyết. Chính sách công là chính sách của nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu mà Nhà nước hướng tới và là công cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân.
Chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước Sắp xếp, đổi mới DNNN là một quá trình liên tục được tiến hành từ đầu những năm đổi mới của đất nước, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình đối mới kinh tế được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI và gần đây là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định, nhằm làm cho kinh tế nhà nước thực sự thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị Trung ương 3 khoán XI của Đảng đã chỉ rõ, việc chậm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, chậm đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc chưa hoàn thành một số nhiệm vụ kinh tế mà Đại hội X đã đề ra và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. Để khắc phục tình trạng đó, Đại hội Đảng lần thứ XI và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa XI đã khẳng định phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tập trung vào 7 n ba lĩnh vực quan trọng nhất: tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước. Hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước tuy là một trong ba trọng tâm của tái cơ cấu kinh tế, nhưng là nút thắt quan trọng, gỡ được nút thắt này sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết hai vấn đề kia và thúc đẩy việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam.
Chính sách sắp xếp, đổi mới DNNN là những chính sách do Nhà nước ban hành nhằm để thực hiện đổi mới toàn diện các DNNN, mà trọng yếu là đổi mới cơ chế, chính sách đối với DNNN một cách đồng bộ và triệt để, bao gồm các vấn đề như: sở hữu, vốn, khoa học – kỹ thuật và công nghệ, công tác cán bộ, quản lý nhà nước đối với DNNN, lao động….Các chính sách cụ thể liên quan đến sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước bao gồm: Phân loại, sắp xếp, sát nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, chuyển cơ quản quản lý: Việc sát nhập, hợp nhất, chuyển cơ quan quản lý (từ địa phương về trung ương hoặc ngược lại) làm giảm được số lượng doanh nghiệp nhà nước, thay bằng tổ chức mới, lãnh đạo mới, cũng giảm được phần nào đó lao động dôi dư. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Cổ phần hóa DNNN bắt đầu từ năm 1992. Đây là biện pháp cơ bản và quan trọng trong hiện chính sách sắp xếp, đổi mới DNNN. Với khung pháp lý về cổ phần hóa được sửa đổi, hoàn thiện liên tục để đáp ứng yêu cầu thực tế, mở rộng đối tượng được quyền mua cổ phần lần đầu, cho phép sử dụng phương pháp khác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp, xóa bỏ cổ phần hóa khép kín, khuyến khích bán cổ phần ra bên ngoài thu hút vốn từ bên ngoài xã hội, thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực.
8 n Số liệu của Cục Tài chính Doanh nghiệp, Bộ Tài chính, hết năm 2010, cả nước đã có 4.000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, chiếm 67,5% tổng số doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại.1: Số lượng DNNN cổ phần hóa qua các năm Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau Cổ phần hóa đã giúp chuyển từ doanh nghiệp nhà nước đơn sở hữu sang hình thức doanh nghiệp đa sở hữu với mô hình, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành năng động và hiệu quả hơn trong điều kiện kinh tế thị trường. Đồng thời, tạo điều kiện pháp lý và vật chất cho người lao động trong doanh nghiệp nâng cao vai trò làm chủ tại doanh nghiệp. Sau cổ phần hóa, các doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và cổ đông, cơ cấu và cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản tránh và giảm được tình trạng can thiệp của nhiều cơ quan đại diện chủ sở hữu như trước đây, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, Cổ phần hóa đã thu hút một lượng vốn khá lớn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sau cổ phần hóa, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh có lãi. Hiệu quả quản lý và năng lực kinh 9 n doanh được cải thiện rõ rệt, thu nhập và đời sống cán bộ công nhân viên từng bước được nâng lên. Giao bán các doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, kém hiệu quả trong những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ: Biện pháp này được thực hiện từ năm 1999 và có hiệu ứng tích cực hơn do có sự chuyển giao rõ ràng về sở hữu, trong khi khoán và cho thuê chỉ là chuyển quyền quản lý, nên hiệu quả thấp và không được hưởng ứng tích cực. Đối tượng giao, bán là những doanh nghiệp nhà nước thua lỗ và không cần giữ 100% vốn hoặc không cổ phần hóa được.
Trên thực tế giao, bán chỉ diễn ra ở các địa phương và chỉ giao, bán những doanh nghiệp nhà nước nhỏ và thua lỗ. Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng giao, bán đã thu hẹp dần về số lượng, gần đây hầu như rất ít doanh nghiệp thực hiện hình thức này. Chuyển thành công ty TNHH một thành viên: Chuyển thành công ty TNHH một thành viên được bắt đầu thực hiện từ sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành. Để tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi, khung pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tế chuyển đổi.
Theo báo cáo của các địa phương, bộ, ngành và tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, hiện có khoảng 1.200 doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty TNHH một thành viên. Có thể nói kết quả quan trọng của chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên là đã chuyển toàn bộ các doanh nghiệp mà nhà nước cần nắm giữ 100% vốn sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Qua đó hoàn thành một bước quan trọng trong quá trình tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thống nhất giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. 10 n Tuy nhiên, việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên còn có nhiều hạn chế và thách thức: Đối tượng chuyển đổi không ổn định, gây khó khăn cho tổng thể quá trình chuyển đổi; Chuyển đổi còn mang tính hình thức nhằm đáp ứng quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 (đến thời điểm 1/7/2010, tất cả doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp); Cơ chế quản trị doanh nghiệp của công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu chưa có thay đổi nhiều so với trước. Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước là nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, để thành phần kinh tế này mạnh lên và đủ sức làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu đang từng bước phát triển theo hướng hiện đại và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đây là quan điểm chỉ đạo và là vấn đề mang tính nguyên tắc. Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Chính phủ là: Đổi mới tư duy kinh tế và chính trị về doanh nghiệp Nhà nước để tạo ra sự đồng thuận xã hội về vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, những ngành và lĩnh vực cần phải có doanh nghiệp Nhà nước. Trên cơ sở này rà soát để điều chỉnh, thu hẹp phạm vi ngành nghề và lĩnh vực cần phát triển doanh nghiệp Nhà nước và tiếp tục giảm mạnh số lượng DNNN. Về cơ bản, doanh nghiệp Nhà nước nên được tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ công, quốc phòng và an ninh.
Xác định rõ vai trò chủ sở hữu Nhà nước và thể chế hóa rõ ràng, rành mạch về trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước và tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước, nhất là tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước. 11 n Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để khối doanh nghiệp này mạnh lên, thực sự trở thành nòng cốt của kinh tế nhà nước, góp phần thực hiện thành công vai trò chủ đạo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo ngành, lĩnh vực không phân biệt cấp, cơ quan quản lý. Thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước một cách toàn diện từ mô hình tổ chức, quản lý, nguồn nhân lực, ngành nghề sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, đầu tư đến thị trường và sản phẩm.
Tổ chức lại một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước cho phù hợp với thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ.