Tổng quan nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí đặc biệt quan trọng khi chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp và thu hút hơn 90% lực lượng lao động mới. Sau sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2006, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Thủ đô Hà Nội phải đối mặt trực tiếp với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn hệ thống máy móc, trang thiết bị của khối công nghiệp nhỏ và vừa tại địa bàn vẫn ở tình trạng lạc hậu, chắp vá, khiến năng suất lao động thấp và giá thành sản xuất cao.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để thúc đẩy tiến trình đổi mới công nghệ trong các DNNVV công nghiệp Hà Nội nhằm nâng cao sức cạnh tranh toàn diện. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về đổi mới công nghệ; khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng công nghệ và hoạt động đổi mới giai đoạn 2000 - 2007; xác lập hệ thống quan điểm cùng các giải pháp đồng bộ giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào các DNNVV sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2000 - 2007. Đề tài mang ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn khi giải quyết bài toán gia tăng giá trị nội địa, hỗ trợ doanh nghiệp tiết giảm từ 15% đến 20% chi phí tiêu hao nguyên liệu, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển công nghệ của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT). Theo khung lý thuyết này, công nghệ là cấu trúc tích hợp của 4 thành phần cơ bản: thành phần kỹ thuật phần cứng (Technoware - T), thành phần con người (Humanware - H), thành phần thông tin (Infoware - I) và thành phần tổ chức quản lý (Orgaware - O). Trong điều kiện các nước đang phát triển, khung phân tích được tích hợp thành 3 tiêu chí cốt lõi để đánh giá thực trạng: tính đồng bộ của dây chuyền, tính hiện đại của thiết bị và năng lực tự chủ công nghệ.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp mô hình đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan (TDRI), đo lường năng lực qua 3 cấp độ: nghiên cứu triển khai (R&D), cải tiến quy trình/sản phẩm và phát kiến tạo ra sản phẩm mới. Khái niệm DNNVV được xác định chuẩn hóa theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, quy định các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hằng năm không quá 300 người. Đổi mới công nghệ được luận văn định nghĩa là quá trình liên tục đưa các giải pháp kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới hoặc hoàn thiện sản phẩm hiện có để nâng cao hiệu quả thương mại trên thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú từ các cuộc điều tra thực nghiệm của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội (HASMEA). Bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm tập trung vào 100 doanh nghiệp công nghiệp tiêu biểu thuộc hai ngành dệt may (65 doanh nghiệp) và hóa chất (35 doanh nghiệp) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp bộ số liệu thống kê liên ngành từ năm 2000 đến năm 2007.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu có chủ đích phân tầng theo ngành nghề sản xuất mũi nhọn và hình thức sở hữu (gồm 35 doanh nghiệp nhà nước, 43 doanh nghiệp tư nhân và 22 doanh nghiệp FDI). Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp định tính, đối chiếu so sánh lịch sử - logic và duy vật biện chứng xuất phát từ yêu cầu phải bóc tách đa chiều bức tranh công nghệ nhiều tầng nấc, phân định rõ nét sự khác biệt giữa các khối sở hữu và các địa bàn kinh tế trọng điểm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhận thức về vai trò của đổi mới công nghệ rất cao nhưng năng lực R&D thực tế lại bị hạn chế nghiêm trọng. Có trên 90% doanh nghiệp đánh giá đổi mới công nghệ là "cần thiết" và "rất cần thiết" (điểm đánh giá bình quân đạt từ 2,3 đến 2,6 trên thang điểm 3,0). Tuy nhiên, chỉ có 39% doanh nghiệp có khả năng tự tổ chức R&D nội bộ. Đáng chú ý, tỷ lệ tự nghiên cứu triển khai ở khối doanh nghiệp tư nhân chỉ dừng lại ở mức 16%, thấp hơn rất nhiều so với mức 54% của doanh nghiệp nhà nước và 59% của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào cải tiến quy trình hiện có thay vì đầu tư mới đồng bộ. Tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành cải tiến quy trình sản xuất hiện tại đạt mức áp đảo 91% (ngành hóa chất đạt 94%, dệt may đạt 89%). Ngược lại, việc đầu tư mới dây chuyền chỉ diễn ra cục bộ để mở rộng quy mô. Hiện trạng máy móc thiết bị của các DNNVV Hà Nội còn lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với khu vực, mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu cao gấp 1,5 đến 2 lần so với mức trung bình của thế giới.

Thứ ba, phương thức đổi mới công nghệ mang tính chất khép kín và thụ động. Phương thức phổ biến nhất là mua công nghệ từ nước ngoài (chiếm 56%) và bắt chước thiết kế lại theo mẫu có sẵn (chiếm 52%). Tại Hà Nội, tỷ lệ doanh nghiệp mua công nghệ từ nước ngoài lên tới 70%, cao hơn đáng kể so với mức 45% tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mức độ gắn kết với các viện, trường và tổ chức tư vấn rất thấp: chỉ 31% doanh nghiệp hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước và chỉ 5% doanh nghiệp từng sử dụng dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ nội địa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phụ thuộc vào công nghệ ngoại nhập và sao chép mẫu mã bắt nguồn trực tiếp từ rào cản tài chính và hạn chế chất lượng nguồn nhân lực. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng có tới 44,29% doanh nghiệp tại Hà Nội gặp khó khăn nghiêm trọng về nguồn vốn đầu tư công nghệ. Về nguồn nhân lực, chỉ 5,13% lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có trình độ đại học. Đội ngũ quản lý cũng bộc lộ khoảng trống lớn khi 48,4% chủ doanh nghiệp tư nhân không có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật và trên 60% chủ doanh nghiệp đã bước qua tuổi 40.

Dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa trực quan qua bảng ma trận so sánh các phương thức đổi mới công nghệ theo hình thức sở hữu hoặc biểu đồ cột thể hiện tương quan năng lực R&D giữa các địa phương. So với kinh nghiệm quốc tế như mô hình 38 trạm trọng điểm chuyển giao công nghệ của Thượng Hải hay chính sách tài trợ không hoàn lại 20% vốn đầu tư công nghệ của Hàn Quốc, các DNNVV Hà Nội đang thiếu vắng mạng lưới tổ chức trung gian tin cậy. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng nếu không có sự can thiệp và hỗ trợ có trọng tâm từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp sẽ tiếp tục mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn: thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, sản phẩm giá trị gia tăng thấp và suy giảm năng lực cạnh tranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Hệ thống giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020 bao gồm các nhóm hành động chiến lược:

  • Hoàn thiện chính sách tài chính và tín dụng ưu đãi: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng và Quỹ Hỗ trợ Phát triển Công nghệ Thủ đô. Mục tiêu nâng tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị hằng năm từ mức 10% hiện tại lên 20% - 25% tổng giá trị tài sản cố định vào năm 2015, áp dụng cơ chế giảm từ 2% đến 3% lãi suất vay cho các dự án chuyển giao công nghệ sạch.
  • Xây dựng mạng lưới sàn giao dịch và dịch vụ công nghệ một cửa: Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội chủ trì thiết lập Trung tâm Giao dịch Công nghệ và các điểm hỗ trợ kỹ thuật tại các khu, cụm công nghiệp tập trung. Đích đến là kết nối thành công tối thiểu 100 hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp mỗi năm giai đoạn 2010 - 2015.
  • Đẩy mạnh đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội (HASMEA) phối hợp với các trường đại học kỹ thuật triển khai chương trình đào tạo quản trị công nghệ và kỹ năng số cho 500 lượt lãnh đạo doanh nghiệp/năm. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật trong các DNNVV công nghiệp từ mức dưới 30% lên 60% vào năm 2020.
  • Nâng cao năng lực tự chủ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Bản thân các doanh nghiệp cần chủ động trích lập từ 5% đến 10% lợi nhuận sau thuế cho quỹ phát triển R&D nội bộ, đồng thời thực hiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp nhằm giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu từ 15% đến 20% trong chu kỳ sản xuất đến năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội có thể sử dụng các số liệu thực chứng của 100 doanh nghiệp khảo sát để xây dựng đề án quy hoạch công nghiệp phụ trợ và chính sách hỗ trợ vốn giai đoạn 2010 - 2020.
  • Chủ doanh nghiệp và giám đốc kỹ thuật khối DNNVV: Lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may, hóa chất, cơ khí chế tạo tìm thấy các mô hình thực tiễn, phân tích chi phí - lợi ích giữa việc nhập khẩu dây chuyền và cải tiến từng phần để tiết kiệm 15% - 20% vốn đầu tư.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Người nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Quản trị kinh doanh có thể khai thác khung lý thuyết APCTT kết hợp mô hình TDRI để phát triển các đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ về kinh tế công nghiệp.
  • Các tổ chức hiệp hội ngành nghề và trung tâm ươm tạo: Các tổ chức như HASMEA, VCCI sử dụng tài liệu làm căn cứ thiết kế các chương trình xúc tiến thương mại công nghệ (Techmart), xây dựng mạng lưới trung gian thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao DNNVV công nghiệp Hà Nội gặp khó khăn lớn nhất về nguồn vốn khi đổi mới công nghệ?
Khảo sát thực tế cho thấy có tới 44,29% doanh nghiệp Hà Nội thiếu vốn do quy mô vốn đăng ký ban đầu dưới 10 tỷ đồng theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP. Doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn, khó tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng dài hạn và chủ yếu phải huy động vốn vay phi chính thức với chi phí lãi vay cao.

Phương thức đổi mới công nghệ nào đang được các doanh nghiệp tư nhân áp dụng phổ biến nhất?
Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử dụng phương thức mua công nghệ từ nước ngoài (chiếm 58%) và bắt chước thiết kế lại theo mẫu (chiếm 53%). Đây là giải pháp có chi phí thấp nhất và mang lại hiệu quả thương mại nhanh, trong khi chỉ có 16% doanh nghiệp tư nhân đủ tiềm lực tài chính để tự nghiên cứu triển khai nội bộ.

Trình độ công nghệ hiện nay của các DNNVV Hà Nội đang ở mức độ nào so với khu vực?
Hệ thống máy móc, thiết bị tại các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội phần lớn còn lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ kỹ thuật. Mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu trong quá trình vận hành sản xuất cao gấp 1,5 đến 2 lần so với định mức trung bình của thế giới, dẫn đến giá thành sản phẩm kém cạnh tranh.

Mối liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học gặp trở ngại gì?
Chỉ có 31% doanh nghiệp có hoạt động hợp tác với các cơ quan khoa học trong nước. Trở ngại chính xuất phát từ việc thiếu các tổ chức môi giới trung gian (chỉ 5% doanh nghiệp thuê tư vấn trong nước), các đề tài nghiên cứu chưa bám sát nhu cầu thương mại hóa thực tế của thị trường sản xuất.

Chất lượng nguồn nhân lực tác động thế nào đến khả năng tiếp thu công nghệ mới?
Chỉ 5,13% lao động trong khối kinh tế ngoài quốc doanh có bằng đại học và 48,4% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản. Sự thiếu hụt kỹ sư chuyên trách khiến doanh nghiệp lúng túng khi tiếp nhận dây chuyền mới, làm chậm tiến độ vận hành và giảm tuổi thọ máy móc thiết bị.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về 4 thành phần công nghệ theo chuẩn APCTT và mô hình đánh giá năng lực đổi mới TDRI áp dụng cho khối DNNVV công nghiệp.
  • Làm rõ bức tranh thực trạng công nghệ của 100 doanh nghiệp Hà Nội giai đoạn 2000 - 2007 với 91% doanh nghiệp chọn giải pháp cải tiến quy trình và 56% nhập khẩu công nghệ.
  • Chỉ rõ các nút thắt cốt lõi gồm: 44,29% doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư, thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ và chỉ 5,13% nhân lực đạt trình độ đại học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về tín dụng ưu đãi, trung tâm dịch vụ công nghệ một cửa, đào tạo quản trị và trích lập quỹ R&D cho giai đoạn 2010 - 2015 tầm nhìn 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển công nghiệp Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả các mô hình đổi mới công nghệ vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ngay hôm nay.