phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới công nghệ ở các DN công nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trƣờng. Chƣơng 2: Thực trạng đổi mới công nghệ tại các DN công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2001 - 2007. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các DN công nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội những năm tới đây. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Khái niệm, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhìn chung, trên thế giới việc xác định một DN là DNNVV chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lƣợng. Tiêu chí định tính đƣợc xây dựng dựa trên các đặc trƣng cơ bản của các DNNVV nhƣ trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.
Tiêu chí định lƣợng đƣợc xây dựng dựa trên các chỉ tiêu nhƣ quy mô, số lƣợng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của DN. Việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất tƣơng đối vì nó chịu tác động của các yếu tố nhƣ trình độ phát triển của một nƣớc, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại DN trong từng thời kỳ nhất định. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thƣờng xuyên thực tế của DN. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của DN.
Các tiêu chí định lƣợng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô DN. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định. Ví dụ nhƣ Đài Loan chẳng hạn. Các DN trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo có từ 1 tới 200 lao động đƣợc coi là DNNVV, trong khi các DN trong ngành thƣơng mại - dịch vụ có từ 1 đến 50 lao động.
Nhật Bản, các DNNVV trong ngành sản xuất chế tạo có từ 1 đến 300 lao động và số vốn kinh doanh không 9 vƣợt quá 300 triệu yên, còn các DNNVV trong ngành thƣơng mại dịch vụ có số lao động không quá 100 ngƣời với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu yên. Ngƣợc lại, Mỹ chỉ có một tiêu chí xác định chung cho các DNNVV là số lao động không quá 500 ngƣời [15]. Ở Việt Nam, trƣớc năm 1998, chƣa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của DNNVV. Do đó, mỗi một tổ chức đƣa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV nhằm định hƣớng mục tiêu và đối tƣợng hỗ trợ hoạt động của tổ chƣ́c mình.
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV thì “DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 ngƣời”. Nhƣ vậy, theo định nghĩa này, tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đƣa ra trong Nghị định này đều đƣợc coi là DNNVV. Các tiêu chí phân loại này tƣơng đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc dùng hai tiêu chí lao động bình quân hằng năm và vốn đăng ký kinh doanh còn quá chung chung.
Hai tiêu chí trên chỉ mới thể hiện đƣợc quy mô đầu vào mà chƣa phản ánh đƣợc kết quả tổng hợp thông qua kết quả kinh doanh. Theo tác giả luận văn nếu sử dụng chỉ tiêu lao động nên dựa vào số lao động làm việc thƣờng xuyên hay số lao động làm việc từ 1 năm trở lên. Yếu tố vốn đăng ký cũng cần xem xét. Thực tế cho thấy số vốn đăng ký của các DN khi thành lập khác xa so với số vốn thực tế đƣa vào kinh doanh.
Chỉ tiêu doanh số cho thấy chính xác hơn quy mô DN, thực trạng hoạt động kinh doanh của các DN. Luận văn cho rằng chỉ tiêu doanh số hằng năm của các DN sẽ phản ánh chính xác hơn quy mô của DN trong từng giai đoạn thay vì tiêu chí vốn đăng ký. Việc sử dụng cả hai tiêu chí lao động và vốn/doanh thu sẽ khuyến khích các DN vừa sử dụng nhiều lao động lại vừa tập trung tích 10 tụ vốn để phát triển. Trình độ công nghệ Công nghệ theo nghiên cứu của APCTT (Trung Tâm chuyển giao công nghệ châu Á Thái Bình Dƣơng) bao gồm 4 thành phần chính: T là thành phần công nghệ hiện thân trong phần cứng, trang thiết bị công nghệ, H là thành phần con ngƣời trong công nghệ bao gồm kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ, I là thành phần thông tin trong công nghệ bao gồm các tài liệu hƣớng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ và cuối cùng là O bao gồm năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ.
Tuy nhiên việc đánh giá trình độ công nghệ theo các tiêu chí này khá phức tạp, khó áp dụng cho các nƣớc đang phát triển một khi các số liệu thống kê về công nghệ không thƣờng xuyên đƣợc cập nhật và công nghệ (phần cứng là chủ yếu) không đồng bộ và chắp vá. Vì vậy, có thể xem xét, tích hợp các chỉ tiêu trên theo 3 tiêu chí là tính đồng bộ, tính hiện đại và khả năng tự chủ đối với công nghệ [4]. Đổi mới công nghệ Có một số đổi mới là dựa trên cơ sở công nghệ thí dụ nhƣ máy tính cá nhân, phun nhiên liệu bằng điện tử. Một số đổi mới khác nhƣ các sản phẩm mới, dịch vụ bảo vệ và dịch vụ tài chính đƣợc hỗ trợ bởi công nghệ mới (có nghĩa là quá trình xử lý số liệu bằng điện tử).
Tiêu chuẩn cho sự đổi mới thành công nghệ chính là yếu tố thƣơng mại hơn là yếu tố kỹ thuật. Đổi mới là kết quả của một quá trình có thể xác định nhƣ một sự phối hợp các hoạt động dẫn đến các sản phẩm mới có thể tiêu thụ đƣợc và những dịch vụ hoặc sản xuất mới và hệ thống phân phối. Năng lực đổi mới bao hàm tất cả các hoạt động nhằm nối liền những phát kiến với đổi mới đem lại những biến đổi về công nghệ, từ những cải tiến có tính chất cơ bản cho đến các cải tiến nhỏ đối với công nghệ hiện có. Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu phát triển Thái lan, đƣa ra năm 1989 thì năng lực đổi mới đƣợc đánh giá gồm: Nghiên cứu triển khai, cải tiến 11 lớn đối với sản phẩm; Thay đổi lớn (dây chuyền công nghệ); Phát kiến mới (mức độ sáng chế đƣa ra quy trình và sản phẩm hoàn toàn mới) [4].
Sự cần thiết, vai trò của việc đổi mới công nghệ đối với các DN công nghiệp 1. Sự cần thiết phải đổi mới công nghệ Hầu hết các DN đều nhận thức đƣợc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ hiện nay, DN của họ cần phải đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh. Kết quả khảo sát của CIEM và UNDP tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 cho thấy, các DN đánh giá tất cả các hoạt động đổi mới công nghệ đƣợc nêu là cần thiết và mức độ cho từng hoạt động gần nhƣ tƣơng đƣơng nhau, dao động trong khoảng từ 2,3 đến 2,6 điểm. Xét về tỷ lệ DN đánh giá, số liệu ở Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ DN đánh giá cho từng hoạt động ở mức độ “cần thiết” và “rất cần thiết” đều đạt trên dƣới 90%.
Tỷ lệ DN đánh giá “không cần thiết” lớn nhất là cho hoạt động nâng cao nguồn nhân lực công nghệ, cũng chỉ đạt 13%, trong đó chủ yếu rơi vào các DN tƣ nhân ngành dệt may [4]. Điều này cho thấy, các DN đã ít nhiều ý thức đƣợc tầm quan trọng của các hoạt động đổi mới công nghệ đối với quá trình sản xuất kinh doanh của họ.1: Sự cần thiết tiến hành các hoạt động đổi mới công nghệ trong DN Tỷ lệ DN đánh giá Mức độ Không đánh Các hoạt động Cần Rất cần cần giá của thiết thiết thiết DN Cải tiến các dây chuyền công nghệ hiện tại 3% 47% 50% 2,5 Đầu tƣ mới dây chuyền công nghệ, máy móc thiết 11% 39% 50% 2,4 bị Nghiên cứu, thiết kế và sản xuất sản phẩm mới 7% 33% 59% 2,6 Nâng cao năng lực nguồn nhân lực công nghệ 13% 40% 45% 2,4 (tuyển dụng, đào tạo) Bố trí lại tổ chức sản xuất 11% 55% 34% 2,3 Nguồn: [4], Báo cáo của CIEM, 2006. Vai trò của việc đổi mới công nghệ Về đổi mới công nghệ trong sản xuất công nghiệp, thực tế cho thấy trình độ lực lƣợng sản xuất ở nƣớc ta còn thấp, lao động còn dƣ thừa, vốn còn hạn chế. Đổi mới công nghệ luôn đƣợc coi là yêu cầu, nhiệm vụ hàng đầu của các DN, doanh nhân; phải kết hợp nhiều trình độ công nghệ, vừa vận dụng công nghệ sẵn có và từng bƣớc cải tiến, nâng cao, vừa cố gắng tranh thủ công nghệ mới, lựa chọn từng mặt, từng khâu trong mỗi ngành, mỗi cơ sở có khả năng tiến thẳng vào công nghệ hiện đại.
Hầu hết các DN đều nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của công nghệ và đổi mới công nghệ trong việc nâng cao năng suất, nâng cao sức cạnh tranh của DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ hiện nay và có thái độ tƣơng đối tích cực khi đánh giá sự cần thiết phải đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, đánh giá mức độ cần thiết giữa các hoạt động của DN chƣa có sự khác biệt đáng kể và điều này đặt ra câu hỏi phải chăng DN chƣa xác định đƣợc rõ hoạt động nào là cấp thiết nhất trong hoàn cảnh của mình mà mới nhận thức các nhu cầu đổi mới công nghệ một cách khá chung chung.