chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến CBTT phi tài chính, các mô hình nghiên cứu về nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính, với mục đích giúp cho tác giả tìm hiểu được các hướng nghiên cứu, từ đó xác định được khe trống trong nghiên cứu về CBTT phi tài chính cho nghiên cứu của tác giả. Việc CBTT được chia thành CBTT tài chính và CBTT phi tài chính. Luận án chỉ tập trung trình bày nhánh nghiên cứu liên quan đến thông tin phi tài chính, theo hình 1.1 như sau: CÔNG BỐ THÔNG TIN Nghiên cứu Nghiên cứu CBTT Tài chính CBTT Phi Tài chính Nghiên Nghiên Nhân cứu về cứu về tố tác công công bố động bố bắt tự đến buộc nguyện CBTT thông thông phi tài tin phi tin phi chính tài tài chính chính Xác định khe trống nghiên cứu 2 Hình 1.1: Tổng quan về nghiên cứu liên quan đến CBTT phi tài chính 3 Nghiên cứu về CBTT phi tài chính được luận án thực hiện theo ba dòng nghiên cứu: (1) Nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính, (2) Nghiên cứu về công bố tự nguyện thông tin phi tài chính, và dòng nghiên cứu (3) về nhân tố tác động đến công bố thông tin phi tài chính, không phân biệt công bố bắt buộc hay công bố tự nguyện.1 Các nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính Với hướng nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính, có một số nghiên cứu như Mobus (2005), Levine và Smith (2011), BaBaLoo (2012), Ioannou và Serafeim (2014), Grewal và cộng sự (2015), Christensen và cộng sự (2015), Kaya (2016), Manes- Rossi và cộng sự (2018), Gulin và cộng sự (2018), Sierra-Garcia và cộng sự (2018), và nghiên cứu của Szadziewska và cộng sự (2018). Đặc trưng của dòng nghiên cứu này là đo lường mức độ công bố bắt buộc thông tin phi tài chính, phương pháp sử dụng để đo lường mức độ công bố bắt buộc được các tác giả thực hiện bằng cách thiết lập các chỉ mục CBTT phi tài chính theo một hệ thống văn bản do quốc gia, nghiên cứu đang thực hiện, quy định.
Theo dòng nghiên cứu này, các tác giả sử dụng phương pháp thống kê để mô tả kết quả mức độ công bố bắt buộc thông tin phi tài chính so với quy định, từ đó đánh giá sự tuân thủ về CBTT phi tài chính của các DN trong mẫu nghiên cứu. Điển hình một số nghiên cứu của dòng nghiên cứu công bố bắt buộc thông tin phi tài chính như sau: 1.1 Các nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính trên thế giới Nghiên cứu của Mobus (2005) về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính là thông tin môi trường, nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ, với mẫu nghiên cứu gồm 17 công ty với 44 nhà máy lọc dầu. Mức độ CBTT phi tài chính môi trường được đo lường bằng việc tuân thủ pháp luật về môi trường của công ty, nghiên cứu cho rằng việc quy định bắt buộc công bố thông tin môi trường đã tạo áp lực để các công ty tuân thủ các quy định về sử dụng định mức môi trường. Nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy, dựa trên số liệu thống kê thử nghiệm Hausman, các hệ số hồi quy được ước tính bằng phương pháp OLS để đo lường mức độ công bố bắt buộc thông tin môi trường của các công ty dầu mỏ.
Kết quả nghiên 4 cứu cho thấy, trung bình mức độ CBTT phi tài chính của các công ty trong mẫu nghiên cứu là 32,58%. Nghiên cứu của Levine và Smith (2011) về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính là các chính sách kế toán quan trọng, với 25 chính sách kế toán gồm: Khoản phải thu, sửa chữa tài sản, khấu hao tài sản, ghi nhận doanh thu, ghi nhận hàng bán bị trả lại, chính sách thuế, chính sách dự phòng, phần mềm, chính sách bảo hành,… Mẫu nghiên cứu là các báo cáo tài chính của các DNNY tại sở GDCK Mỹ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả mức độ công bố từng chính sách kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ CBTT cao nhất là chính sách chứng khoán thị trường, tỷ lệ công bố 67,1%, thấp nhất là chính sách công bố liên quan đến công ty phục vụ cho mục đích đặc biệt với tỷ lệ 0,85%, từ kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra các định hướng cho việc tăng cường mức độ công bố các chính sách kế toán quan trọng.
Nghiên cứu của BaBaLoo (2012) về công bố chính sách kế toán ở Ấn Độ. Mục tiêu của nghiên cứu này là sự tuân thủ các chính sách kế toán trong việc trình bày báo cáo tài chính theo CMKT số 01 của Ấn Độ (Ind AS 01) và so sánh với CMKT số 01 được ban hành trước đó và so sánh với CMKT quốc tế 01 (IAS/IFRS 01). Nghiên cứu được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu từ các nguồn thứ cấp như sách, trang web internet và tài liệu nghiên cứu khác. Phương pháp nghiên cứu là so sánh sự tuân thủ các chính sách kế toán giữa Ind AS 01 hiện hành với trước đây, và so sánh với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS 01.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa Ind AS 01 và IAS/IFRS 01, từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kiến nghị trong việc hội tụ của CMKT Ấn Độ với chuẩn mực lập BCTC quốc tế, tuy nhiên việc hội tụ theo CMKT quốc tế được thực hiện dần, từng phần. Nghiên cứu của Ioannou và Serafeim (2014) xem xét các quy định bắt buộc CBTT phi tài chính về môi trường, xã hội và quản trị công ty ở bốn nước gồm Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia và Nam Phi bằng cách ước tính sự khác biệt trong CBTT phi tài chính của các công ty thuộc các quốc gia trong mẫu. Nhóm tác giả thu thập dữ liệu CBTT môi trường, xã hội và quản trị công ty do Bloomberg công bố. Thông tin môi trường liên quan đến phát 5 thải, nước, chất thải, năng lượng và các chính sách hoạt động xung quanh tác động môi trường.
Dữ liệu xã hội liên quan chủ yếu đến nhân viên, sản phẩm và tác động đến cộng đồng. Quản trị dữ liệu liên quan đến cơ cấu hội đồng quản trị, các khoản lương thưởng của ban điều hành. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số để chấm điểm CBTT. Mẫu nghiên cứu gồm 144 công ty Trung Quốc, 29 Đan Mạch, 43 công ty Malaysia, và 101 công ty Nam Phi, đơn vị tiền tệ thống nhất là USD.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTT phi tài chính khác nhau giữa các quốc gia. Các công ty ở Trung Quốc, Nam Phi có mức độ CBTT môi trường, xã hội, quản trị công ty tăng lên đáng kể sau khi ban hành quy định về việc công bố bắt buộc các thông tin phi tài chính này, bên cạnh CBTT theo các quy định bắt buộc, các công ty trong mẫu nghiên cứu ở Trung Quốc, Nam Phi còn tăng cường CBTT phi tài chính theo các hướng dẫn GRI4. Như vậy các công ty ở các nước này không chỉ tăng cường báo cáo thông tin phi tài chính theo những quy định mà còn thực hiện CBTT theo hướng dẫn của GRI để có thể nâng cao độ tin cậy và tính so sánh của thông tin phi tài chính. Các công ty Đan Mạch đã ký cam kết thực hiện theo Hiệp ước Toàn cầu Liên hợp quốc (UNGC), đáp ứng yêu cầu CBTT theo tiêu chuẩn UNGC.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các công ty Đan Mạch công bố kết hợp các tiêu chí xã hội và môi trường trong quản lý chuỗi cung ứng. Kết quả nghiên cứu các công ty Malaysia cho thấy, báo cáo trách nhiệm xã hội của công ty bao gồm các hoạt động thiện nguyện, hoạt động cộng đồng, và kết quả nghiên cứu phù hợp với thực tế nhưng mức độ không đáng kể. Ngoài việc CBTT phi tài chính theo các quy định của nhà nước, các công ty Malaysia có khuynh hướng áp dụng CBTT theo hướng dẫn của GRI. Nghiên cứu của Grewal và cộng sự (2015) về phản ứng của thị trường vốn khi Liên minh Châu Âu (EU) thông qua chỉ thị về tăng cường công bố bắt buộc phi tài chính về môi trường, xã hội, quản trị công ty (ESG).
Mẫu nghiên cứu gồm 1.249 công ty thuộc các quốc gia trong EU. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số để chấm điểm công bố các thông tin phi tài chính, sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ 6 liệu, phương pháp hồi quy đơn biến, phân tích dữ liệu chéo. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các DN trong các ngành công nghiệp sản xuất có mức công bố phi tài chính (33,39%) cao hơn các ngành khác (21,24%). Nghiên cứu của Christensen và cộng sự (2015) ảnh hưởng thực sự của quy định công bố bắt buộc thông tin phi tài chính trong BCTC của các DNNY tại sở GDCK Mỹ.
CBTT phi tài chính được nghiên cứu đề cập là công bố an toàn mỏ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất OLS, và hồi quy poisson để kiểm tra ảnh hưởng về điều khoản của đạo luật Dodd-Frank với việc công bố an toàn mỏ trong BCTC của 151 DNNY tại Sở GDCK Mỹ, trung bình mỗi công ty sở hữu 24 mỏ. Các công ty Mỏ thường công bố số liệu an toàn rất ít, vì vậy việc công bố an toàn mỏ đã khuyến khích nhà quản lý công ty có hành động thực sự để cải tiến việc an toàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công bố bắt buộc thông tin phi tài chính tác động đến việc gia tăng giá trị công ty, gia tăng nhận thức của nhà đầu tư về vấn đề an toàn mỏ.
Và có những tác động thực sự của việc CBTT phi tài chính trong BCTC — ngay cả khi thông tin này được công bố ở nơi khác. Nghiên cứu của Kaya (2016) về việc phân tích các công bố bắt buộc thông tin phi tài chính là môi trường và xã hội theo đạo luật Code Grenelle II của Pháp ban hành, ảnh hưởng đến tất cả các công ty ở Pháp, những công ty có hơn 500 nhân viên phải lập báo cáo môi trường xã hội hàng năm và báo cáo này phải được kiểm toán xác nhận. Quy định này có 42 mục thông tin cần báo cáo gồm: các vấn đề xã hội (việc làm, quan hệ lao động, sức khoẻ và an toàn), môi trường (ô nhiễm, quản lý chất thải, tiêu thụ năng lượng); và hoạt động cộng đồng (các tác động xã hội, quan hệ với các bên liên quan, nhân quyền.