Tổng quan luận án

Đề tài "Đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính và các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Dương Hoàng Ngọc Khuê thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Hà Xuân Thạch, thuộc chuyên ngành Kế toán (Mã số: 9340301) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp bao gồm thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Trong khi thông tin tài chính phản ánh kết quả bằng thước đo tiền tệ phục vụ việc ra quyết định kinh tế truyền thống, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đặt ra nhiều thách thức đối với môi trường và xã hội. Nhà đầu tư, đặc biệt là các tổ chức đầu tư quốc tế, có xu hướng tích hợp các chỉ số phi tài chính (môi trường, xã hội, quản trị công ty - ESG) để đánh giá giá trị, uy tín và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Tại Việt Nam, trước năm 2016, thông tin kế toán chủ yếu tập trung vào khía cạnh tài chính; các thông tin phi tài chính chỉ mang tính chất giải thích phụ trợ trong Thuyết minh Báo cáo tài chính. Việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC (áp dụng từ kỳ báo cáo năm 2016) đã chính thức quy định nghĩa vụ công bố thông tin (CBTT) môi trường và xã hội đối với các doanh nghiệp niêm yết (DNNY). Tuy nhiên, mức độ tuân thủ quy định này trong thực tế cũng như khoảng cách so với các chuẩn mực quốc tế như Hướng dẫn G4 của Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI4) chưa được đo lường một cách toàn diện. Các nghiên cứu trong nước trước đó chủ yếu xem xét CBTT tự nguyện với phạm vi dữ liệu trước thời điểm ban hành Thông tư 155/2015/TT-BTC và Thông tư 200/2014/TT-BTC. Do đó, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Đo lường mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY trên thị trường chứng khoán theo quy định của Việt Nam và theo quy định của thế giới; đồng thời nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Thứ nhất: Đo lường mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam theo quy định của Việt Nam và theo quy định GRI4 của thế giới.
    2. Thứ hai: Xác định các nhân tố và đo lường tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Câu hỏi 1: Mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam hiện nay theo quy định của Việt Nam và quy định của thế giới như thế nào?
  2. Câu hỏi 2: Những nhân tố nào tác động đến mức độ CBTT phi tài chính và từng nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thông tin phi tài chính của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết chính thức trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh - HOSE và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội - HNX).
  • Phạm vi thời gian và tài liệu: Dữ liệu công bố thông tin phi tài chính thu thập từ Báo cáo thường niên (BCTN) và Báo cáo phát triển bền vững (BC PTBV) năm 2016 của các DNNY có niên độ kế toán từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 hàng năm.
  • Giới hạn nghiên cứu:
    • Không nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc khối tài chính do đặc thù thông tin phi tài chính khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
    • Không đánh giá khía cạnh chất lượng CBTT phi tài chính mà tập trung vào mức độ CBTT.
    • Loại trừ các doanh nghiệp niêm yết chính thức sau ngày 01/01/2016 do dữ liệu năm 2016 không trọn vẹn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba dòng nghiên cứu chính:

                      CÔNG BỐ THÔNG TIN
      CBTT Tài chính                  CBTT Phi tài chính
    (1) CBTT Bắt buộc               (2) CBTT Tự nguyện              (3) Nhân tố tác động

1. Dòng nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính

  • Trên thế giới: Mobus (2005) nghiên cứu 17 công ty lọc dầu tại Mỹ với mức CBTT môi trường bắt buộc bình quân đạt 32,58%; Levine và Smith (2011) khảo sát 25 chính sách kế toán bắt buộc tại Mỹ ghi nhận mức độ công bố cao nhất là 67,1% và thấp nhất là 0,85%; BaBaLoo (2012) phân tích sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Ấn Độ (Ind AS 01) và IAS/IFRS 01; Ioannou và Serafeim (2014) khảo sát dữ liệu ESG từ Bloomberg tại Trung Quốc (144 công ty), Đan Mạch (29 công ty), Malaysia (43 công ty) và Nam Phi (101 công ty), chỉ ra mức độ CBTT tăng rõ rệt sau khi ban hành luật; Grewal và cộng sự (2015) khảo sát 1.249 công ty tại EU cho thấy khối sản xuất đạt tỷ lệ công bố 33,39%, cao hơn các ngành khác (21,24%); Christensen và cộng sự (2015) kiểm định ảnh hưởng của Đạo luật Dodd-Frank về an toàn mỏ đối với 151 DNNY tại Mỹ; Kaya (2016) phân tích việc thực thi Đạo luật Code Grenelle II của Pháp (bắt buộc cho công ty trên 500 nhân viên với 42 chỉ mục); Gulin và cộng sự (2018) khảo sát 10 DNNY tại Croatia giai đoạn 2013–2015 với 52 chỉ mục; Manes-Rossi và cộng sự (2018) khảo sát 50 công ty lớn nhất Châu Âu theo Chỉ thị 2014/95/EU với mức công bố bình quân 71%; Szadziewska và cộng sự (2018) và Sierra-Garcia và cộng sự (2018) phân tích tác động của Chỉ thị 2014/95/EU tại Ba Lan và Tây Ban Nha.
  • Tại Việt Nam: Tác giả xác định chưa có nghiên cứu chuyên biệt về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính.

2. Dòng nghiên cứu về công bố tự nguyện thông tin phi tài chính

  • Trên thế giới: Karim và cộng sự (2013) khảo sát 136 nhà quản lý tại Mỹ với 24 mục thông tin; Khan và cộng sự (2014) khảo sát 14 DNNY tại Fiji ghi nhận 46% công bố thông tin chiến lược và 15% công bố thông tin trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR); Ghasempour và Yusof (2014) nghiên cứu 65 DNNY tại Iran (2005–2012) chỉ ra mức điểm phân tán từ 13 đến 646; Mihajlov và Spasic (2016) nghiên cứu 63 DNNY tại Serbia ghi nhận mức công bố tự nguyện trung bình 48,41%; Rezaee và Tuo (2017) khảo sát 580 công ty tại Mỹ năm 2010 với mức công bố trung bình 51,34%.
  • Tại Việt Nam: Tạ Quang Bình (2012) khảo sát 199 DNNY tại HOSE và HNX; Tạ Quang Bình (2014) nghiên cứu 196 DNNY với BCTN năm 2009 cho kết quả công bố trung bình 43,4%; Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) nghiên cứu 205 DNNY ngành sản xuất công nghiệp năm 2012 đạt mức trung bình 32,16%.

3. Dòng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

Các công trình quốc tế của Meek và cộng sự (1995), Robb và cộng sự (2001), Skouloudis và cộng sự (2013), Behbahani và cộng sự (2013a, 2013b), Zare và cộng sự (2013), Mohammed và Islam (2014), Ghasempour và Yusof (2014), Sierra-Garcia và cộng sự (2018) cùng các nghiên cứu trong nước của Tạ Quang Bình (2014), Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) đã kiểm định các nhóm nhân tố: quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, kiểm toán độc lập và cấu trúc ban quản trị.

Nhóm nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Phương pháp đo lường Kết quả chính về nhân tố tác động
Quốc tế Meek và cộng sự (1995); Skouloudis và cộng sự (2013); Rezaee và Tuo (2017); Szadziewska và cộng sự (2018) Chỉ số không trọng số/có trọng số, Hồi quy OLS, Tobit, Phân tích nội dung Quy mô (+), Quốc tế hóa (+), Sở hữu tổ chức (+), Ngành nghề kinh doanh (+); Sở hữu nhà nước (-), Đòn bẩy tài chính (-)
Việt Nam Tạ Quang Bình (2014); Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) Chỉ số không trọng số, Hồi quy OLS Quy mô (+), Lợi nhuận (+), Sở hữu nước ngoài (+), Công ty kiểm toán (+), Cấu trúc lãnh đạo kép (+)

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

  1. Đánh giá thực trạng mức độ CBTT phi tài chính theo quy định pháp lý của Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và đối chiếu với khung chuẩn mực quốc tế GRI4 cho kỳ báo cáo năm 2016.
  2. Khám phá và bổ sung nhân tố mới là nhân tố vay vốn nước ngoài vào mô hình hồi quy đa biến, kiểm định thực nghiệm tác động của các nhóm đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu và quản trị công ty đến mức độ CBTT phi tài chính tại một thị trường mới nổi như Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết nền tảng

Luận án vận dụng năm lý thuyết kinh tế và quản trị cơ bản:

  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory): Doanh nghiệp có trách nhiệm giải trình không chỉ với cổ đông mà còn với nhân viên, khách hàng, nhà cung ứng, cộng đồng và các cơ quan quản lý thông qua việc công bố thông tin phi tài chính.
  • Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric information theory): CBTT phi tài chính giúp giảm thiểu sự chênh lệch thông tin giữa nhà quản trị nội bộ và nhà đầu tư bên ngoài, hạn chế rủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.
  • Lý thuyết đại diện (Agency theory): Việc gia tăng minh bạch thông tin phi tài chính là cơ chế giám sát giúp kiềm chế hành vi trục lợi của ban điều hành, giảm chi phí đại diện.
  • Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory): Doanh nghiệp công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị nhằm chứng minh hoạt động của mình phù hợp với các chuẩn mực và kỳ vọng của xã hội, qua đó duy trì tính hợp pháp cho sự tồn tại của doanh nghiệp.
  • Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory): Các doanh nghiệp có kết quả hoạt động tốt chủ động công bố thông tin phi tài chính chất lượng cao để phát tín hiệu tích cực tới thị trường vốn.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp hỗn hợp (định tính và định lượng):

                                  QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU HỖN HỢP
        MỤC TIÊU 1 (MỨC ĐỘ CBTT)                                    MỤC TIÊU 2 (NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG)
     [Phương pháp Định lượng]                                       [Phương pháp Định tính]
  - Xây dựng bảng kiểm tra (Checklist):                           - Thảo luận nhóm chuyên gia
    + 61 chỉ mục theo TT 155/BTC                                    (cơ quan quản lý, VAA, VACPA, KTV, KTT)
    + Bộ chỉ mục theo GRI4                                        - Xác định biến và phát hiện nhân tố mới
  - Phương pháp chấm điểm nhị phân (0-1)                            (Vay vốn nước ngoài)
  - Thống kê mô tả & Phân nhóm mức độ                             - Thiết lập các giả thuyết nghiên cứu
                                [Bàn luận & Hàm ý chính sách]
  • Phương pháp định tính: Thực hiện kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia (đại diện cơ quan giám sát thị trường, cơ quan soạn thảo chuẩn mực, hội nghề nghiệp VAA, VACPA, kiểm toán viên độc lập, kế toán trưởng và các nhà nghiên cứu kế toán) nhằm khám phá nhân tố mới, xác định biến số và hoàn thiện thang đo.
  • Phương pháp định lượng:
    • Đo lường mức độ CBTT: Sử dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số (unweighted disclosure index). Mỗi mục thông tin được gán giá trị 1 nếu doanh nghiệp có công bố và 0 nếu không công bố. Tổng điểm được quy đổi thành tỷ lệ phần trăm mức độ CBTT. Sử dụng kiểm định Paired Samples t-test để so sánh mức độ CBTT giữa quy định Việt Nam và chuẩn mực GRI4.
    • Đo lường các nhân tố tác động: Sử dụng mô hình hồi quy đa biến OLS với 2 mô hình phương trình:
      • Mô hình 1: Biến phụ thuộc là mức độ CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC).
      • Mô hình 2: Biến phụ thuộc là mức độ CBTT phi tài chính theo GRI4.
    • Kiểm định vi phạm giả định mô hình: Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số phóng đại phương sai VIF), phương sai của sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan Durbin–Watson, đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và biểu đồ P-P Plot.

Nội dung chính theo từng chương

Phần mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài, 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 2 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, 3 giới hạn nghiên cứu, các đóng góp mới về mặt lý thuyết và thực tiễn, cùng bố cục kết cấu của toàn bộ luận án.

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố

Tổng quan hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm chủ đề: công bố bắt buộc, công bố tự nguyện và các nhân tố tác động. Chương này hệ thống hóa 11 nghiên cứu công bố bắt buộc quốc tế, 5 nghiên cứu công bố tự nguyện quốc tế, 3 nghiên cứu công bố tự nguyện tại Việt Nam, 12 nghiên cứu nhân tố tác động quốc tế và 2 nghiên cứu nhân tố tác động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các khoảng trống tri thức để xây dựng khung phân tích cho luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Xác lập cơ sở lý luận về thông tin phi tài chính: định nghĩa, vai trò, đối tượng sử dụng và các hình thức trình bày (BCTN, BC PTBV, báo cáo tích hợp). Trình bày các hệ thống hướng dẫn CBTT quốc tế (GRI, Khung Singapore, ISO 26000, UNGC, CDP) và văn bản pháp lý tại Việt Nam (Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, Thông tư 155/2015/TT-BTC, Thông tư 200/2014/TT-BTC). Phân tích năm lý thuyết nền tảng giải thích hành vi CBTT và thiết lập phương pháp tính toán chỉ số công bố không trọng số.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, kết quả và bàn luận về đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính

  • Thiết kế nghiên cứu và công cụ đo lường: Xây dựng danh mục bảng kiểm tra (checklist) gồm 61 chỉ mục theo quy định của Thông tư 155/2015/TT-BTC (phân bổ thành 5 nhóm: Thông tin chung, Thông tin môi trường, Thông tin xã hội, Quản trị công ty và Thông tin phi tài chính khác) và hệ thống danh mục chỉ mục tương ứng theo hướng dẫn GRI4 (gồm các phần: Thông tin chung, Môi trường, Xã hội, Quản trị công ty và Kinh tế).
  • Kết quả đo lường và kiểm định:
    • Đo lường mức độ CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam và theo GRI4 của các DNNY trong mẫu nghiên cứu năm 2016.
    • Phân tích thống kê mô tả tần suất công bố theo từng nhóm chỉ mục (Thông tin chung, Môi trường, Xã hội, Quản trị công ty, Kinh tế, Thông tin khác).
    • Thực hiện kiểm định cặp (Paired Samples Statistics, Paired Samples Correlations, Paired Samples Test) so sánh điểm số công bố theo quy định Việt Nam và GRI4.
  • Bàn luận: Đánh giá mức độ tuân thủ quy định bắt buộc Thông tư 155/2015/TT-BTC và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế GRI4 của các DNNY tại Việt Nam.

Chương 4: Phương pháp nghiên cứu, kết quả và bàn luận về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính

  • Nghiên cứu định tính: Tổng hợp kết quả phỏng vấn chuyên gia để sàng lọc các biến số và xác lập cơ sở đưa nhân tố "Vay vốn nước ngoài" vào mô hình hồi quy.
  • Mô hình hồi quy và các nhóm biến:
    • Nhóm đặc tính công ty: Quy mô công ty, Khả năng sinh lời (ROA, ROE, ROS), Đòn bẩy tài chính, Thời gian niêm yết/tuổi công ty, Ngành nghề kinh doanh, Vị trí địa lý, Vay vốn nước ngoài.
    • Nhóm cấu trúc sở hữu: Sở hữu nhà nước, Sở hữu nước ngoài, Sở hữu tổ chức.
    • Nhóm quản trị công ty: Hoạt động của kiểm toán nội bộ, Cấu trúc lãnh đạo kép (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc), Đặc điểm Tổng giám đốc (độ tuổi, trình độ), Loại hình công ty kiểm toán (Big 4 / KTV độc lập).
  • Kết quả kiểm định giả thuyết:
    • Báo cáo kết quả thống kê mô tả mẫu và các kiểm định vi phạm giả định hồi quy (phương sai sai số thay đổi, Durbin–Watson, VIF, ANOVA) cho cả Mô hình 1 (theo quy định Việt Nam) và Mô hình 2 (theo GRI4).
    • Trình bày bảng kết quả ước lượng hồi quy OLS và so sánh thứ tự mức độ tác động của các nhân tố giữa hai mô hình.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Tổng kết toàn diện kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ Chương 3 và Chương 4. Đề xuất hệ thống các hàm ý chính sách và khuyến nghị quản trị:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định tại Thông tư 155/2015/TT-BTC nhằm nâng cao tính khả thi, bổ sung các chế tài và chuẩn hóa tiêu chuẩn công bố phù hợp với thực tiễn.
  • Đối với doanh nghiệp niêm yết: Hàm ý điều chỉnh về quản trị nội bộ (tăng cường kiểm toán nội bộ, tách bạch vị trí lãnh đạo kép, nâng cao năng lực thu thập dữ liệu ESG) để nâng cao mức độ CBTT phi tài chính.
  • Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: Trình bày các điểm hạn chế của đề tài và định hướng mở rộng cho các nghiên cứu tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý thuyết và học thuật

  • Bổ sung và kiểm định phương pháp luận chấm điểm chỉ số công bố thông tin phi tài chính không trọng số trong bối cảnh thị trường chứng khoán của một quốc gia đang phát triển.
  • Phát hiện, bổ sung và kiểm định thành công biến số mới là nhân tố vay vốn nước ngoài trong mô hình giải thích mức độ CBTT phi tài chính của doanh nghiệp.
  • Mở rộng việc vận dụng kết hợp năm lý thuyết nền tảng (Các bên liên quan, Bất cân xứng thông tin, Đại diện, Hợp pháp và Tín hiệu) để luận giải hành vi CBTT phi tài chính bắt buộc và tự nguyện tại Việt Nam.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm đầu tiên về mức độ tuân thủ Thông tư 155/2015/TT-BTC trong năm đầu tiên áp dụng (năm tài chính 2016) của các DNNY tại Việt Nam.
  • Lượng hóa khoảng cách giữa mức độ CBTT phi tài chính theo quy định pháp lý trong nước và tiêu chuẩn quốc tế GRI4 thông qua kiểm định thống kê so sánh cặp.
  • Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân tố thuộc đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu và quản trị doanh nghiệp tới hành vi CBTT.

3. Hàm ý chính sách và kiến nghị thực thi

  • Đối với Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Cần rà soát lại các hướng dẫn chỉ mục trong Thông tư 155/2015/TT-BTC; xây dựng lộ trình tích hợp dần các tiêu chí quốc tế của GRI vào khung báo cáo bắt buộc; ban hành các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về đo lường dữ liệu môi trường và xã hội cho từng phân ngành cụ thể.
  • Đối với các doanh nghiệp niêm yết: Cần nâng cao nhận thức của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc về tầm quan trọng của thông tin ESG; hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị nội bộ để thu thập số liệu phi tài chính định kỳ; củng cố vai trò kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo độ tin cậy của thông tin công bố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Dữ liệu nghiên cứu chỉ giới hạn trong một niên độ kế toán (năm 2016) - năm đầu tiên Thông tư 155/2015/TT-BTC có hiệu lực, chưa phản ánh được xu hướng biến động theo chuỗi thời gian nhiều năm.
  • Phạm vi nghiên cứu loại trừ nhóm doanh nghiệp tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư), do đó kết quả chưa mang tính đại diện cho toàn bộ các ngành niêm yết trên thị trường.
  • Đề tài tập trung đo lường mức độ (số lượng các mục thông tin được công bố) thông qua thang đo nhị phân (0-1), chưa đi sâu đánh giá chất lượng, độ sâu hoặc tính xác thực của thông tin phi tài chính.
  • Loại bỏ các doanh nghiệp niêm yết mới sau ngày 01/01/2016.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng thu thập dữ liệu bảng (panel data) qua chuỗi thời gian nhiều năm liên tiếp để đánh giá xu hướng thay đổi mức độ CBTT phi tài chính sau giai đoạn áp dụng Thông tư 155/2015/TT-BTC.
  • Thiết kế bộ chỉ mục chuyên biệt để nghiên cứu mức độ và nhân tố tác động đến CBTT phi tài chính cho khối định chế tài chính và ngân hàng thương mại.
  • Kết hợp phương pháp phân tích nội dung chuyên sâu hoặc chỉ số có trọng số để đo lường toàn diện khía cạnh chất lượng và tính xác thực của các báo cáo phát triển bền vững.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mức độ tuân thủ pháp lý của các DNNY để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách giám sát CBTT trên thị trường chứng khoán.
  • Đối với các hiệp hội nghề nghiệp (VAA, VACPA): Cung cấp cơ sở thực tiễn để biên soạn tài liệu tập huấn, chuẩn hóa nghiệp vụ lập và kiểm toán báo cáo thông tin phi tài chính cho kiểm toán viên và kế toán trưởng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kế toán - Kiểm toán: Cung cấp tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về phương pháp luận nghiên cứu hỗn hợp, quy trình xây dựng bảng chỉ số công bố (checklist), kỹ thuật kiểm định mô hình hồi quy và cách thức kết hợp các lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu kế toán.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những khung tham chiếu nào để đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính?

Luận án sử dụng hai khung đo lường: (1) Khung quy định pháp lý của Việt Nam căn cứ trên Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính gồm 61 chỉ mục chia thành 5 nhóm thông tin; (2) Khung chuẩn mực quốc tế theo Hướng dẫn G4 của Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI4).

2. Phương pháp chấm điểm công bố thông tin trong luận án được thực hiện như thế nào?

Tác giả áp dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số (unweighted disclosure index). Bảng kiểm tra ghi nhận điểm nhị phân: gán điểm 1 nếu doanh nghiệp có công bố chỉ mục thông tin tương ứng trong Báo cáo thường niên hoặc Báo cáo phát triển bền vững, và gán điểm 0 nếu không công bố.

3. Điểm mới nổi bật về mô hình nhân tố tác động của luận án là gì?

Luận án đã kiểm định và đưa vào mô hình nhân tố mới là nhân tố vay vốn nước ngoài, bên cạnh việc phân tích đồng thời 2 mô hình hồi quy đa biến OLS riêng biệt (Mô hình 1 theo quy định Việt Nam và Mô hình 2 theo chuẩn mực GRI4).

4. Tại sao luận án loại trừ các doanh nghiệp ngành tài chính khỏi mẫu nghiên cứu?

Luận án không khảo sát các doanh nghiệp ngành tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán) do đặc thù hoạt động và các chỉ tiêu thông tin phi tài chính của nhóm này có cấu trúc khác biệt đáng kể so với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thông thường.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Hoàng Ngọc Khuê đã giải quyết hai vấn đề học thuật và thực tiễn cốt lõi: đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam theo Thông tư 155/2015/TT-BTC và chuẩn mực quốc tế GRI4, đồng thời xác định các nhân tố tác động đến hành vi công bố này. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp thảo luận chuyên gia và phân tích hồi quy OLS, luận án đã bổ sung nhân tố vay vốn nước ngoài vào mô hình lý thuyết và lượng hóa thực trạng minh bạch thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp trong năm tài chính 2016. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện chính sách cũng như định hướng doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm giải trình và quản trị bền vững.