CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 1.1 Khái niệm lợi nhuận Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa hóa lợi nhuận và giả thuyết này rất bền vững. Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô. Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về công ty đều lấy lợi nhuận làm mục đích cuối cùng.Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Trong kinh tế học, lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó.
Bao gồm cả chi phí cơ hội [8, tr. Trong kế toán, lợi nhuân là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất. Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực trên là quan niệm về chi phí. Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không quan tâm đến chi phí cơ hội như trong kinh tế học.
Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận sẽ bằng 0. Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Marx “cái phần trội nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”. Karl Marx cho rằng “giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận” [6, tr.
Nhà kinh tế học hiện đại P.Nordhaus thì định Luan van 9 nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi ra” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là một khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một Công ty và tổng chi phí” [8,tr. Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [1] , lợi nhuận kế toán là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường doanh thu, chi phí kế toán ghi nhận và trình bày các khoản mục đó trong báo cáo kết quả kinh doanh.
Vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng, lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.2 Nguyên tắc đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí để xác định lợi nhuận. Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2] , Đo lường lợi nhuận phụ thuộc vào đo lường doanh thu và đo lường chi phí. đo lường doanh thu dựa vào nguyên tắc ghi nhận doanh thu trong.
Đo lường chi phí dựa vào nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2] , doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch Luan van 10 về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành.
Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành Theo Chuẩn mực VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” [2] , doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu. Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi” Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; + Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn; + Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng và cung Luan van 11 cấp dịch vụ.
Nguyên tắc đo lường và ghi nhận chi phí - Nguyên tắc phù hợp: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó” (Theo chuẩn mực kế toán VAS01- Chuẩn mực chung) [1]. - Nguyên tắc thận trọng: “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn.
Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm giá vốn chủ sở hữu được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra. Vận dụng nguyên tắc thận trọng để đo lường lợi nhuận thể hiện: + Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không mang lại lợi ích (không làm giảm vốn chủ sở hữu), ví dụ như: lập dự phòng, tiền phạt,… + Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc việc xác định lợi ích mang lại không đáng tin cậymang lại lợi ích trong tương lai, nhưng không thể đo lường lợi ích đáng tin cậy, ví dụ như: chi phí quản lý doanh nghiệp,… Theo chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung [1] , tuân thủ nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tụcLợi nhuận được xác định phải tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp và nguyên Luan van 12 tắc thận trọng. Trình tự các bước để xác định lợi nhuận là: i) Xác định doanh thu tuân theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu; ii) Xác định chi phí tuân theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng.2 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Đo lường và ghi nhận doanh thu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [2]. Giá trị doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định tuân theo nguyên tắc giá gốc (giá phí) chính là bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
Theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [2] , doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau: + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; + Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn; + Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được các khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu. Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (nợ phải thu khó đòi) thì phải Luan van 13 lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu.
Khoản nợ phải thu khó đòi khi được xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi. Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [2] , doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau: + Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch vụ; + Giá thanh toán; + Thời hạn và phương thức thanh toán. Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống kế hoạch tài chính và kế toán phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có quyền xem xét và sửa đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Doanh thu tài chính Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [2] , doanh thu hoạt động tài chính gồm tiền lãi, cổ tức lợi nhuận được chia, thu nhập về hoạt động đầu tư mua, lãi tỷ giá hối đoái; Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận là doanh thu tài chính khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện - Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó; - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.