phần mở đầu, kết luận và phụ lục, bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Tổng quan về kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang - Chƣơng 3: Một số giải pháp vận dụng cho công tác kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản. Sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam cũng không ngoại lệ. Điều đó đƣợc thể hiện thông qua những vai trò quan trọng của nó trong việc phát triển kinh tế - xã hội: Vai trò thứ nhất: cung cấp lƣơng thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho toàn xã hội.
Góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực, ổn định chính trị, xã hội, làm cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội. Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu căn bản của con ngƣời là nhu cầu sinh học và lƣơng thực, thực phẩm là một trong những yếu tố đáp ứng nhu cầu đó của con ngƣời. Dân số nƣớc ta năm 2013 có khoảng gần 90 triệu ngƣời, nhu cầu lƣơng thực thực phẩm cho toàn xã hội khá cao. Bảng cung cầu thóc gạo Việt Nam đến năm 2020 đƣa ra dự đoán nhu cầu thóc gạo của Việt Nam là 35,2 triệu tấn trong tổng sản lƣợng đạt đƣợc là 38,5 triệu tấn.
Do đó phát triển nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lƣơng thực, cung cấp đầy đủ nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm cho toàn xã hội là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế. Vai trò thứ hai: cung cấp yếu tố đầu vào cho công nghiệp. Các ngành công nghiệp nhẹ nhƣ: chế biến lƣơng thực thực phẩm, công nghệ dệt may, giấy,… dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp. 8 Sản lƣợng cây công nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp tăng phục vụ tốt cho công nghiệp chế biến và góp phần thúc đẩy giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến ở nƣớc ta.1 Sản lƣợng một số sản phẩm nông nghiệp Đơn vị tính: nghìn tấn 2009 2010 2011 2012 2013 Một số cây công nghiệp lâu năm Điều 291,90 310,50 309,10 312,50 277,70 Cao su (Mủ khô) 711,30 751,70 789,30 877,10 949,10 Cà phê (Nhân) 1.289,50 Chè (Búp tƣơi) 771,00 834,60 878,90 909,80 921,70 Hồ tiêu 108,00 105,40 112,00 116,00 122,10 Sản lƣơng thuỷ sản 4.019,70 Sản lƣợng thịt lợn hơi xuất chuồng 3.217,90 Sản lƣợng thịt gia cầm 528,5 615,2 696 729,4 746,9 Bảng 1.2 Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến Đơn vị tính: tỷ đồng Công nghiệp chế biến, chế tạo 1.315,40 Trong đó: Sản xuất, chế biến thực phẩm 418.373,50 Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 97.569,00 Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (bảng 1.2), sản lƣợng của sản phẩm nông nghiệp tăng từ năm 2009 đến năm 2013, kéo theo sự gia tăng của giá trị sản xuất công nghiệp chế biến.
9 Vai trò thứ ba: là thị trƣờng quan trọng cho các ngành công nghiệp và dịch vụ nhƣ các ngành sản xuất máy móc, vật tƣ cho nông nghiệp, điện năng, phân bón, giao thông vận tải, thƣơng mại,… Sản phẩm công nghiệp bao gồm tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng đƣợc tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trƣờng trong nƣớc mà trƣớc hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Phát triển nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cƣ khu vực nông thôn, làm gia tăng sức mua từ khu vực này sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng. Vai trò thứ tƣ: tạo ra vốn thặng dƣ để đầu tƣ cho quá trình công nghiệp hóa, tạo ra sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Giá trị nông lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu, mang về nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia.
Bên cạnh đó, phát triển nền nông nghiệp bền vững gắn liền với bảo vệ môi trƣờng vì môi trƣờng một nhân tố đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.2 Ảnh hƣởng của đặc điểm sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp đến công tác kế toán Đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố ảnh hƣởng đến công tác kế toán trong doanh nghiệp và sản xuất nông nghiệp cũng không ngoại lệ. Từng đặc điểm sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác kế toán nhƣ sau: - Hoạt động sản xuất gắn liền với đất đai ảnh hƣởng đến hạch toán TSCĐ và hạch toán chi phí sản xuất. - Đối tƣợng sản xuất là những cơ thể sống, sản phẩm có khả năng tái sản xuất tự nhiên ảnh hƣởng đến tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm và kỳ tính giá thành sản phẩm. - Sản xuất mang tính thời vụ, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên ảnh hƣởng đến kỳ tính giá thành, đối tƣợng và phƣơng pháp phân bổ chi phí.
10 - Tổ chức sản xuất trên địa bàn rộng lớn, tổ chức quản lý sản xuất bao gồm bộ phận quản lý chung và đội (phân xƣởng) sản xuất ảnh đến tổ chức thu thập, cung cấp thông tin và hạch toán kinh tế nội bộ.1 Hoạt động sản xuất gắn liền với đất đai Ruộng đất là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế đƣợc và đặc biệt trong sản xuất của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp. Nhƣng khác với những tƣ liệu sản xuất khác, đất đai không thể nhân rộng lên. Do đó, ngoài chế độ luân canh thì ngƣời ta còn áp dụng nhiều phƣơng pháp sản xuất khác để tận dụng đất đai và tăng hiệu suất sản xuất sản phẩm nhƣ trồng xen, trồng gối những loại cây trồng khác nhau. Chính thực tế này đã đặt ra cho công tác hạch toán chi phí và tính giá thành là phải áp dụng nhiều phƣơng pháp thích hợp nhằm tách khoản chi phí riêng cho từng loại cây trồng xen, trồng gối và tính giá thành sản phẩm của từng loại sản phẩm của từng loại cây trồng trên từng loại đất khác nhau.1 Bên cạnh đó, đất đai còn là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, các doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng đất.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, quyền sử dụng đất lâu năm là tài sản cố định vô hình và không trích khấu hao. Tuy nhiên, trong quá trình khai phá và sử dụng, các đơn vị phải chi ra một khoản chi phí để khai hoang, cải tạo đất, những chi phí này cần phải tính vào giá thành sản phẩm.Nhƣng các khoản chi phí này thƣờng khá lớn và có tác dụng đối với cây trồng trong nhiều năm. Do vậy, kế toán phải theo dõi chính xác các khoản chi phí này và tiến hành phân bổ theo phƣơng pháp đặc biệt vào giá thành sản phẩm của cây trồng (vật nuôi).2 Đối tƣợng sản xuất là những cơ thể sống Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, đối tƣợng sản xuất trong các doanh nghiệp nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi chúng có quá trình sinh trƣởng, phát triển theo những qui luật tự nhiên nhất định. Với những qui luật sinh 1 Kế Toán Tài Chính, Khoa Kinh Tế - Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, 2006, trang 696. 2 Bộ môn hạch toán, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Hạch toán kế toán trong các xí nghiệp thuộc các ngành sản xuất và lƣu thông, trang 329. 11 trƣởng và phát triển riêng của những đối tƣợng này làm cho thời gian lao động và thời gian sản xuất không đồng nhất với nhau. Chu kỳ sản xuất thƣờng dài và không đồng nhất, mang tính thời vụ, việc tác động của con ngƣời chỉ có thể làm thay đổi một phần qui luật chứ không thể mang tính quyết định, do đó việc thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn.
Chi phí sản xuất bỏ ra cũng nhƣ sản phẩm thu đƣợc giữa các tháng trong năm có sự chênh lệch lớn. Có nhiều loại chi phí bỏ ra kỳ này, năm này nhƣng có liên quan đến việc sản xuất và thu hoạch sản phẩm của kỳ khác, năm khác. Đặc điểm này tạo nên tính đa dạng cũng nhƣ phức tạp trong quá trình theo dõi, tập hợp chi phí cụ thể cho từng loại cây trồng, vật nuôi, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cây trồng và vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp vừa có thể là tài sản cố định hay chi phí sản xuất dở dang phụ thuộc vào mục đích sử dụng của tài sản này vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quá trình sử dụng cho sản xuất, những tài sản cố định là những cơ thể sống này có thể thay đổi về thể chất nhƣ trọng lƣợng tăng thêm của đàn gia súc, cây lâu năm, gia súc bị bệnh chết, … Điều này sẽ ảnh hƣởng đến giá trị của những tài sản sinh học này lúc cuối kỳ. Bên cạnh đó, sự tiến bộ về kỹ thuật nuôi trồng cũng nhƣ các tiến bộ về sinh học sẽ ảnh hƣởng đến giá trị của những tài sản cố định sinh học này. Do đó khi lựa chọn phƣơng pháp khấu hao tài sản sinh học phải tính đến các yếu tố trên.3 Những tƣ liệu sản xuất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp có khả năng tái sản xuất tự nhiên Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp rất phong phú, đa dạng bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau nhƣ: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, xây dựng cơ bản,.Do đó, nhiều tƣ liệu sản xuất nhƣ cây giống, con giống, thức ăn gia súc, phân bón,. có thể là kết quả của quá trình sản xuất trƣớc hoặc là sản phẩm của ngành sản xuất khác trong doanh nghiệp.
Vì vậy, kết quả sản 3 Võ Nguyên Phƣơng, Vận dụng một cách hợp lý hệ thống tài khoản kế toán hiện hành vào việc hạch toán các loại hình sản xuất nông nghiệp tại An Giang, trang 9. 12 xuất của ngành này, kỳ này có ảnh hƣởng đến kết quả sản xuất của ngành khác, kỳ sau.