CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC DNNVV VẬN TẢI HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về DNNVV vận tải hàng hóa ở Việt Nam 1.1 Nhận diện Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia ngày nay, các DNNVV chiếm vị trí và vai trò rất quan trọng, được coi là “cỗ máy tạo việc làm”, là động lực cho tăng trưởng. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2011), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội. Chính vì vậy, chính phủ thường có những chính sách hỗ trợ cho DNVVN nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp này phát triển và đóng góp nhiều hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia.
Năm 2009, Chính phủ đã có Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về việc trợ giúp phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại điều 3 của Nghị định cũng đã đưa ra các tiêu chí cụ thể để nhận diện Doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó : Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Quy mô DN siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp nhỏ nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và thủy trở xuống trở xuống người đến đồng đến dưới người đến sản 200 người 200 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 và Xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến dưới người đến 200 người 200 tỷ đồng 300 người III.
Thương mại 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến dưới người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người 11 (Nguồn: tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Đến tháng 6 năm 2017, Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu thực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Và cũng trong năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP – quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV. Trong Nghị định mới này cũng đã quy định lại các tiêu chí để xác định DNNVV, cụ thể như sau : Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Quy mô DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực Tổng doanh Số LĐ Tổng doanh Số LĐ Tổng doanh Số LĐ thu năm tham gia thu năm hoặc tham gia thu năm hoặc tham gia hoặc tổng BHXH tổng nguồn BHXH bq tổng nguồn BHXH bq nguồn vốn bq năm vốn năm vốn năm I. Nông, lâm Không quá 3 Không Tổng doanh Không Tổng doanh Không nghiệp, thủy tỷ đồng quá 10 thu năm không quá 100 thu năm không quá 200 sản, công người quá 50 tỷ đồng người quá 200 tỷ người nghiệp, xây hoặc tổng đồng hoặc tổng dựng nguồn vốn nguồn vốn không quá 20 không quá 100 tỷ đồng.
Thương mại, Tổng doanh Không Tổng doanh Không Tổng doanh Không dịch vụ thu năm quá 10 thu năm không quá 50 thu năm không quá 100 không quá người quá 100 tỷ người quá 300 tỷ người 10 tỷ đồng đồng hoặc tổng đồng hoặc tổng hoặc tổng nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn không quá 50 không quá 100 không quá 3 tỷ đồng. (Nguồn: tổng hợp từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) Như vậy theo quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP tiêu chí xác định DNNVV đã có sự thay đổi khi mở rộng biên độ giới hạn của tiêu chí tổng nguồn vốn, giảm biên độ giới hạn tiêu chí tổng số lao động đóng BHXH và thêm một lựa chọn với tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc tổng doanh thu năm. Với sự thay đổi này sẽ làm tăng số lượng DN được xét vào loại DNNVV so với trước. Đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều thêm các DN nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước để tồn tại và phát triển.2 Đặc điểm chung tại các DNNVV vận tải hàng hóa tại Việt Nam Tìm hiểu các đặc điểm của DNNVV vận tải hàng hóa từ đó phân tích sự ảnh hưởng của các đặc điểm đó đến việc TCCTKT tại các DN này như sau: 12 Thứ nhất: DNNVV vận tải hàng hóa đường bộ được thành lập dễ dàng, không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động không nhiều, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp.
DNVVN vận tải hàng hóa sau khi thành lập xong thường nhanh chóng đi vào hoạt động, cung ứng ngay được dịch vụ vận tải. Cơ sở vật chất quan trọng nhất là các phương tiện vận tải như ô tô tải, ô tô đầu kéo, xơ – mi rơ móc…, văn phòng làm việc, bãi đỗ xe, trạm sửa chữa xe… chủ yếu được đầu tư ở mức độ cần thiết và hoạt động này cũng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Vì cơ sở hạn tầng không nhiều, số lượng lao động ít nên bộ máy quản lý cũng được tổ chức gọn nhẹ, tinh giảm để năng động với thị trường. Điều này cũng kéo theo việc các DN sẽ tổ chức CTKT đơn giản, sơ sài, không đầy đủ, mục đích chính của công tác kế toán chỉ là nhằm mục đích cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài DN sử dụng như cơ quan quản lý nhà nước, thuế, ngân hàng… Hay nói cách khác là các DN mới chú trọng đến việc tổ chức công tác kế toán tài chính, còn công tác kế toán quản trị thì hầu như là không có.
Thứ hai: Nhìn chung các DNNVV vận tải hàng hóa đường bộ còn nhiều hạn chế về trình độ quản lý và phương thức điều hành doanh nghiệp. Phần lớn DNVVN vận tải hàng hóa được thành lập trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên trong gia đình, bạn bè, đồng nghệp… và người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, giám đốc hay quản đốc. Đa số các chủ DN chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. Do vậy mức độ chuyên môn trong quản lý thường không cao, đôi khi việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ vận tải.
Và hệ quả rõ ràng là môi trường làm việc ở các DN này chưa phát huy tốt tính tự chủ, sáng tạo của nhân viên. Không ít DN vận tải vẫn còn xa lạ với việc xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh lâu dài và bền vững với những mục tiêu, sứ mệnh được xác định rõ ràng, cụ thể trong từng giai đoạn, từng điều kiện và hoàn cảnh. Chính vì vậy mà việc tổ chức ghi nhận và cung cấp thông tin kế toán chưa đảm bảo được tính minh bạch, chính xác, cũng khiến cho các DN khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các ngân hàng cũng như từ thị trường chứng khoán. Vì vậy, các DN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại.
Các DN vận tải hàng hóa thường vay vốn ngân hàng để đầu tư mua mới các phương tiện vận tải bằng việc thế chấp tài sản mua cho ngân hàng. Thứ ba: Hoạt động của DNNVV vận tải hàng hóa đường bộ phụ thuộc nhiều 13 vào biến động của môi trường kinh doanh Chi phí xăng dầu luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí cung ứng dịch vụ vận tải, với quy mô vốn không lớn các DNNVV vận tải hàng hóa phần lớn là không chủ động được về nguồn nhiên liệu do không có các kho chứa xăng dầu riêng, vì vậy khi giá xăng dầu trên thị trường lên xuống thì đều có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như giá thành dịch vụ của DN. Mặt khác, đầu ra của các dịch vụ vận tải hàng hóa phụ thuộc nhiều vào các DN sản xuất, thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa trong nước. Vì vậy khi một trong những đối tượng hay hoạt động trên bị gặp sự cố, bị ngưng hoạt động hay bị gián đoạn thì đều ảnh hưởng đến hoạt động của các DN vận tải.
Với nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV vận tải hàng hóa tương đối thấp. Tuy vậy, với quy mô nhỏ, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, tăng giảm lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các DN lớn. Đặc điểm này tác động đến việc lựa chọn mô hình TCCTKT của các DNNVV linh hoạt thích ứng với biến động của môi trường kinh doanh.2 Tổ chức Công tác kế toán tại các DNNVV vận tải hàng hóa đường bộ 1.1 Khái niệm về tổ chức công tác kế toán Theo giáo trình Tổ chức công tác kế toán trong DN của Học viện Tài chính xuất bản năm 2011 đưa ra khái niệm về tổ chức công tác kế toán như sau : « Tổ chức công tác kế toán phải giải quyết được cả 2 phương diện : tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương tiện tính toán nhằm đạt được mục tích nghiên cứu của khoa học kế toán, và tổ chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhân viên kế toán ở đơn vị để thực hiện tốt công tác kế toán » [9] Theo Luật Kế toán thì đưa ra nhận định về TCCTKT như sau: "Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lưu giữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán".