Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã đưa ra xét xử sơ thẩm 53 vụ án với 382 bị cáo về tội đánh bạc, chiếm tỷ lệ 11,1% tổng số vụ án hình sự và 27,6% tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử trên toàn địa bàn. Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường và đô thị hóa, tệ nạn cờ bạc trên địa bàn nông thôn - công nghiệp cao su diễn biến ngày càng phức tạp, có sự liên kết chặt chẽ và sử dụng nhiều phương thức tinh vi nhằm qua mặt cơ quan chức năng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những vướng mắc lý luận và bất cập thực tiễn trong hoạt động định tội danh tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm hệ thống hóa cơ sở khoa học của việc định tội danh, đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật tại huyện Dầu Tiếng trong mốc thời gian từ năm 2014 đến năm 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh và hoàn thiện pháp luật hình sự. Nghiên cứu có ý nghĩa chính trị - pháp lý và thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo đảm tỷ lệ định tội danh chính xác đạt 100%, bảo vệ quyền con người, phòng chống oan sai, không bỏ lọt tội phạm và ổn định trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý luận khoa học luật hình sự Việt Nam về cấu thành tội phạm và hoạt động định tội danh. Hoạt động định tội danh được xác định là quá trình tư duy logic và hoạt động thực tiễn pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đối chiếu sự phù hợp đồng nhất giữa các tình tiết khách quan của hành vi phạm tội thực tế với 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật.

Bốn yếu tố cấu thành của tội đánh bạc bao gồm:

  • Khách thể của tội phạm: Xâm phạm trật tự an toàn công cộng và nếp sống văn minh xã hội.
  • Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi tham gia trò chơi trái phép được thua bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có tiền án chưa được xóa án tích về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc.
  • Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
  • Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp với mục đích được thua về mặt kinh tế.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình phân định cấu thành tội phạm giữa tội đánh bạc tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 322 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp là toàn bộ 53 bản án hình sự sơ thẩm và các báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng trong giai đoạn 2014 - 2018 liên quan đến 382 bị cáo. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là toàn bộ quần thể gồm 53 vụ án và 382 bị cáo thuộc nhóm tội đánh bạc, áp dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát toàn diện nhằm bảo đảm tính chính xác tuyệt đối của các tham số thống kê.

Tác giả kết hợp phương pháp thống kê xã hội học pháp luật, phân tích tổng hợp hồ sơ án, diễn dịch - quy nạp và so sánh luật học giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm làm rõ sự biến động về số lượng vụ án, đặc điểm nhân thân bị cáo và các điểm nghẽn pháp lý khi chuyển giao giữa hai giai đoạn lập pháp. Timeline khảo sát dữ liệu thực nghiệm kéo dài trọn vẹn 5 năm từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2018, hoàn thiện tổng thuật luận văn vào năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử 53 vụ án với 382 bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng giai đoạn 2014 - 2018 đem lại 3 phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, tỷ trọng các vụ án đánh bạc có xu hướng gia tăng mạnh trong cơ cấu tội phạm hình sự tại địa phương. Năm 2014, số vụ án đánh bạc chiếm 9,8% tổng số vụ án (12 trên 122 vụ) với 91 bị cáo (chiếm 28,8%). Đến năm 2018, tỷ lệ này đã tăng lên mức 17,5% tổng số vụ án (10 trên 57 vụ) và tỷ lệ bị cáo đánh bạc chiếm tới 56,2% tổng số bị cáo hình sự toàn huyện (68 trên 121 bị cáo).

Thứ hai, cơ cấu áp dụng hình phạt phản ánh chính sách xử lý hình sự linh hoạt nhưng còn thiếu tính ổn định qua các năm. Trong 382 bị cáo bị kết án, hình phạt án treo chiếm tỷ lệ cao nhất với 116 trường hợp (30,4%), phạt tù có thời hạn áp dụng cho 104 trường hợp (27,2%), cải tạo không giam giữ áp dụng cho 40 trường hợp (10,5%), phạt tiền áp dụng cho 34 trường hợp (8,9%) và không có trường hợp nào áp dụng hình phạt cảnh cáo (0 trường hợp). Riêng năm 2018, số bị cáo chịu án cải tạo không giam giữ tăng vọt lên 26 người, trong khi án treo giảm mạnh xuống chỉ còn 3 người.

Thứ ba, cơ cấu nhân thân người phạm tội có đặc điểm đặc thù đáng chú ý. Số bị cáo là nữ giới chiếm tỷ lệ rất cao với 114 trường hợp (chiếm 29,8% tổng số bị cáo), trong đó riêng năm 2014 có tới 48 bị cáo nữ. Tình trạng tái phạm có xu hướng tăng nhanh qua từng năm, từ 4 trường hợp năm 2014 lên 11 trường hợp năm 2018, nâng tổng số đối tượng tái phạm lên 25 người trong 5 năm. Đồng thời, ghi nhận 1 trường hợp người phạm tội là Đảng viên vào năm 2018.

Thảo luận kết quả

Diễn biến thực tế của tội phạm đánh bạc tại địa phương có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tỷ lệ gia tăng số lượng bị cáo từ mức 17,6% năm 2015 lên 56,2% năm 2018, kết hợp với bảng phân bổ cơ cấu 5 loại hình phạt được áp dụng. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ đặc thù địa bàn huyện Dầu Tiếng có diện tích rừng cao su rộng lớn (như lô cao su 55 Nông trường Bến Súc) và nhiều khu vực giáp ranh, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng tổ chức sòng bạc lưu động dưới các hình thức như lắc tài xỉu, binh sập xám, bài xì dách.

Thực tiễn xét xử tại địa phương làm phát sinh 3 vướng mắc lớn trong hoạt động định tội danh:

Một là, việc xử lý số tiền thu giữ trên chiếu bạc không xác định được chủ sở hữu hoặc số tiền thu giữ nhiều hơn số tiền các bị can khai nhận. Điển hình như trường hợp thu giữ 51.000.000 đồng nhưng các bị can chỉ thừa nhận mang theo 48.000.000 đồng để đánh bạc. Việc xác định số tiền chênh lệch 3.000.000 đồng có phải là vật chứng hay không dẫn đến bất đồng quan điểm giữa việc truy tố theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 13, Điều 85 và Điều 89 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nếu cơ quan điều tra không chứng minh được thì phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội, coi khoản tiền chênh lệch là tài sản vô chủ và truy tố theo khoản 1 nhằm bảo đảm quyền lợi cho bị can.

Hai là, cách tính tiền dùng đánh bạc trong trường hợp một người làm cái cược với nhiều người (như trò chơi tài xỉu). Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP chưa quy định cụ thể về trường hợp này, dẫn đến xung đột giữa việc coi tổng số tiền của toàn bộ sòng bạc (ví dụ 55.000.000 đồng) là căn cứ định khung chung, hay tách riêng số tiền cược của từng người chơi với nhà cái để định tội danh chính xác cho từng cá nhân.

Ba là, thẩm quyền của Tòa án trong việc xử lý số tiền thu giữ trên người bị can nhưng chứng minh được không dùng vào việc đánh bạc (như trường hợp thu giữ 3.000.000 đồng là tài sản riêng của bị can chưa dùng đánh bạc). Việc cơ quan điều tra không trả lại mà chuyển theo hồ sơ vụ án đòi hỏi Hội đồng xét xử phải áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để tuyên trả lại ngay tại phiên tòa nhằm giải quyết triệt để vụ án.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ thực tiễn nghiên cứu tại huyện Dầu Tiếng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP trong lộ trình từ năm 2020 đến năm 2022. Nghị quyết mới cần hướng dẫn cụ thể cách tính tiền dùng đánh bạc đối với các hình thức một người làm cái như tài xỉu, bài cào ba lá, đồng thời quy định chuẩn hóa việc xử lý số tiền chênh lệch trên chiếu bạc theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng. Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng cần duy trì các khóa tập huấn nghiệp vụ định kỳ 6 tháng một lần. Mục tiêu đạt 100% cán bộ, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Thư ký nắm vững kỹ năng đối chiếu cấu thành tội phạm và phương pháp đánh giá chứng cứ khách quan, loại bỏ triệt để thái độ bao che hoặc thụ động trong xét xử.

Thứ three, tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác thu giữ và quản lý vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng chủ trì xây dựng quy chuẩn phân loại tiền tại chiếu bạc và tiền cá nhân ngay khi lập biên bản bắt quả tang, bảo đảm 100% tài liệu, chứng cứ vật chất được thu thập hợp pháp theo Điều 89 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội và tuyên truyền pháp luật. Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng chỉ đạo các đoàn thể tổ chức tối thiểu 12 đợt tuyên truyền pháp luật mỗi năm tại các xã trọng điểm, tập trung tuyên truyền cho nhóm đối tượng là phụ nữ và công nhân cao su, phấn đấu giảm trên 20% tỷ lệ tái phạm tội đánh bạc trong các năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên tại các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn với 53 vụ án điển hình, giúp người tiến hành tố tụng xử lý chính xác các tình huống phức tạp về phân loại vật chứng và xác định khung hình phạt.

Thứ hai, Luật sư và người bào chữa trong các vụ án hình sự. Các phân tích chi tiết về nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 và căn cứ xử lý vật chứng tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là tài liệu quan trọng để xây dựng luận cứ bào chữa hiệu quả cho thân chủ.

Thứ ba, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị cao về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm hồ sơ án sơ thẩm và kỹ năng phân tích cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ tư, Cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Công an cấp cơ sở. Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về tệ nạn cờ bạc tại các vùng kinh tế nông - công nghiệp cao su, hỗ trợ xây dựng kế hoạch quản lý nhân thân và bảo đảm an ninh trật tự địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Mức định lượng tiền dùng đánh bạc để bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là bao nhiêu? Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, người đánh bạc trái phép bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án chưa xóa án tích về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tiền thu được trên chiếu bạc nhưng không xác định được của ai sẽ được xử lý như thế nào? Theo quy định tại Điều 89 và Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nếu cơ quan điều tra không chứng minh được số tiền chênh lệch là của bị can dùng đánh bạc thì không coi là vật chứng buộc tội. Số tiền này được coi là tài sản vô chủ và xử lý tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Trong trò chơi tài xỉu có một người làm cái thì cách tính tiền đánh bạc để định tội danh ra sao? Bản chất của trò chơi tài xỉu là người chơi chỉ đặt cược với nhà cái chứ không đánh bạc với nhau. Vì vậy, số tiền dùng đánh bạc của từng người chơi được tính theo từng ván cược riêng lẻ với nhà cái, tránh việc cộng gộp toàn bộ số tiền của sòng bạc để truy tố sai khung hình phạt.

Số tiền thu giữ trên người bị can nhưng chứng minh không dùng đánh bạc được giải quyết ra sao? Theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, số tiền thu trên người bị can nhưng chứng minh được là tài sản riêng, không sử dụng vào việc đánh bạc phải được Hội đồng xét xử tuyên trả lại ngay cho bị can tại phiên tòa để bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp.

Vì sao tỷ lệ bị cáo phạm tội đánh bạc tại huyện Dầu Tiếng là phụ nữ lại chiếm số lượng lớn? Số liệu thực tế ghi nhận 114 bị cáo là phụ nữ trong 5 năm, chủ yếu do thời gian nhàn rỗi tại địa phương và nhận thức pháp luật hạn chế, coi các hình thức bài tây, xì dách, số đề tại các điểm thu mua mủ cao su là trò giải trí nhỏ mà không lường trước hậu quả pháp lý.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa cơ sở lý luận về định tội danh tội đánh bạc theo Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Khảo sát toàn diện 53 bản án sơ thẩm với 382 bị cáo tại Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng trong giai đoạn 2014 - 2018.
  • Làm rõ 3 vướng mắc pháp lý cốt lõi về xử lý vật chứng tiền mặt, tính toán giá trị cược tài xỉu và trả lại tài sản hợp pháp cho bị can.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn hóa hoạt động tố tụng.
  • Định hình các bước triển khai tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng xét xử và tuyên truyền pháp luật phòng ngừa tệ nạn xã hội tại địa bàn giai đoạn 2020 - 2025.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ tư pháp quan tâm đến công tác định tội danh và thực tiễn xét xử tội phạm hình sự hãy nghiên cứu chi tiết toàn văn công trình luận văn để áp dụng hiệu quả vào công tác chuyên môn và học thuật.