Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI ĐÁNH BẠC 1. Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 1. Những dấu hiệu pháp lý Tội đánh bạc được quy định tại điều 321 BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định: "1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 5.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000 đồng trở lên; c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; d) Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10." Từ các quy định trên, tội đánh bạc được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nới rộng hơn mức khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự so với quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999. 5 * Khách thể của tội phạm: “Là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến, do đó khách thể của tội phạm chính là đối tượng bảo vệ của luật hình sự”. Hành vi phạm tội thể hiện ở hành vi đánh bạc, tức là hành vi sát phạt về kinh tế lẫn nhau (với mục đích được thua bằng tiền hoặc hiện vật) của nhiều người (từ hai người trở lên) dưới bất kỳ hình thức nào (như chơi lô đề, cá cược, xóc đĩa, đỏ đen, tá lả.
Hành vi của tội phạm tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, hủy hoại nhân cách của người phạm tội, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, cá nhân từ đó kéo theo sự phát sinh của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Mặt khách quan của tội phạm: “Là mặt bên ngoài của tội phạm, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, , có các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian, địa điểm, phương pháp, công cụ phạm tội”. Hành vi khách quan của tội đánh bạc được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như bài tây, xóc đĩa, chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa,. Hành vi tham gia trò chơi trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật là dấu hiệu pháp lý đầu tiên, quan trọng nhất của mặt khách quan.
Hành vi đánh bạc đã và đang được mở rộng hình thức, quy mô và phạm vi hơn rất nhiều so với trước đây, đồng thời thủ đoạn phạm tội cũng rất tinh vi, phạm vi không chỉ gói gọn trong một địa phương mà thậm chí là kết nối nhiều tỉnh thành với nhau hoặc ra ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Điều này cho thấy, việc các chủ thể tham gia vào các hoạt động trò chơi trái pháp luật thắng thua bằng các tài sản đặt cược là bản chất của hành vi phạm tội. Các dạng biểu hiện của hành vi đánh bạc rất đa đạng, không chỉ giới 6 hạn trong các hình thức như đánh bài, xóc đĩa.mà còn các hình thức như đá gà, cá độ bóng đá. Nhìn chung, người đánh bạc có thể lựa chọn bất cứ hoạt động nào và có ý chí chủ quan biến nó thành trò chơi có dùng tài sản làm phương tiện thanh toán cho việc thắng thua, trừ hành vi của đua xe trái phép đồng thời tham gia cá cược được quy định tại Điều 266 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Kết quả của trò chơi phụ thuộc vào hoạt động của chủ thể như đánh xóc đĩa, cũng có thể phụ thuộc vào những đối tượng được lựa chọn như đá gà, đua chó. Nhưng có thể xác định, điểm chung là việc thắng thua là có tính khách quan. Trường hợp trò chơi mà các cá nhân, tổ chức thực hiện có thể điều chỉnh được kết quả theo ý muốn thì hành vi này về bản chất không còn là một dạng trò chơi may rủi nữa mà là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên hành vi của các chủ thể không có sự gian dối hoặc không biết có sự gian dối về kết quả vẫn được xác định là hành vi đánh bạc.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì phương tiện thanh toán cho việc thắng thua phải là tiền hoặc hiện vật. Khi xác định giá trị tài sản dùng để đánh bạc cần lưu ý: a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng người đánh bạc là tổng số tài sản mà những người tham gia đánh bạc dùng để đánh bạc (được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP). b) Trường hợp một người đánh bạc với nhiều người (như trường hợp chơi số đề) thì người đánh bạc với nhiều người phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số tài sản mà họ và nhừng người đánh bạc khác dùng để đánh bạc; từng người tham gia đánh bạc với người này thì phải chịu trách nhiệm hình sự 7 về số tài sản mà bản thân họ dùng để đánh bạc. Hậu quả của hành vi đánh bạc không phải là dấu hiệu bắt buộc và cũng không phải là yếu tố định khung hình phạt mà người phạm tội chỉ cần có hành vi đánh bạc trái phép là đã bị coi là vi phạm Trên thực tế, hậu quả của hành vi đánh bạc có thể nghiêm trọng như: vì thua đánh bạc, túng quẫn mà có hành vi phạm tội khác như trộm, cướp, cướp giật, cố ý gây thương tích, lừa đảo.
Trong trường hợp trên, người phạm tội đánh bạc nếu thực hiện các hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành các tội như cố ý gây thương tích, giết người,… thì không chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạcmà còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm khác. * Mặt chủ quan của tội phạm: “Là trạng thái tâm lý của chủ thể tội phạm thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đã thực hiện”. Chủ thể của tội đánh bạc luôn chủ động lựa chọn việc đánh bạc, việc tham gia vào trò chơi trái phạm luật gây thiệt hại cho xã hội dù có đủ khả năng nhận thức và có sự lựa chọn để không thực hiện hành vi đó. Tuy nhiên, dấu hiệu bắt buộc được mô tả trong cấu thành tội phạm, không phải là các dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội của tội đánh bạc.
* Chủ thể của tội phạm: “Là người thực hiện hành vi được quy định tại Điều 321 BLHS có năng lực TNHS, đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự”. Chủ thể của tội đánh bạc được xác định có năng lực trách nhiệm hình sự ngay tại thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội, ngay vào thời điểm đó, họ phải nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của họ gây ra, đồng thời có khả năng điều chỉnh hành vi theo đúng quy định với pháp luật nhưng họ đã không lựa chọn. Phải thõa mãn cả hai điều kiện trên thì mới có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. 8 Người đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này căn cứ theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
So sánh tội đánh bạc với một số tội khác So sánh tội đánh bạc với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại điều 322 Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 như sau: “1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000 đồng trở lên; b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000 đồng trở lên; c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc; d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Thu lợi bất chính 50.000 đồng trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” “Tội gá bạc được hiểu là việc người phạm tội tạo điều kiện về địa điểm cho việc đánh bạc được diễn ra để thu tiền (tiền hồ)”.
Tội đánh bạc cũng như tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, là tội phạm được quy định từ rất sớm, đều gọi chung là tội “cờ bạc’, sau này được tách ra các hành vi khác nhau. Tội đánh bạc tại Điều 321 và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự Việt Nam 2015. Tuy nhiên, hành vi tổ chức đánh bạc và hành vi gá bạc vẫn quy định trong cùng một điều luật. Vì vậy, khi định tội danh phải tùy trường hợp mà định tội cho đúng.
Về mặt khách thể: Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc đều là tệ nạn xã hội.