CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm 1. Khái niệm chủ thể của tội phạm Tội phạm trước hết là một hành vi. Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi chủ thể xác định.
Không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới khách quan mà không có chủ thể. Các tác động trong thế giới vật chất gây ra những thiệt hại đáng kể như sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất… xảy ra tự nhiên thì không được coi là hành vi. Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội thì: Hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể [62, tr. Như vậy, tội phạm phải có chủ thể thực hiện.
Luật hình sự trong mọi thời điểm lịch sử đều xây dựng trên nguyên tắc Luận văn thạc sĩ Luật học này. Chủ thể của tội phạm cùng với các yếu tố khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm cấu thành nên tội phạm. Do đó để xác định một hành vi có là tội phạm hay không thì chúng ta phải xét đến việc hành vi đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm trên không? Nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì khó có thể coi đó là tội phạm và không thể truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi nói trên. Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, chủ thể của tội phạm có thể được xem là khác nhau, phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị.
Ở mỗi một quốc gia khác nhau trên thế giới thì quy định có sự khác nhau về khái niệm chủ thể của tội phạm trong luật hình sự. Theo quan điểm truyền thống thì: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định [45, tr. Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một người cụ thể, bởi vì chỉ có con người cụ thể mới có thể thực hiện được một hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, mới thể hiện được yếu tố lỗi, có thể chịu trách nhiệm cá nhân cũng như mới thực hiện được các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng trị và giáo 6 dục, cải tạo mà Nhà nước đã quy định. Do vậy, con người cụ thể thực hiện tội phạm được gọi là chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đang sống. Như vậy, để được coi là chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hay vô ý phải: (1) có đủ năng lực TNHS, (2) đạt độ tuổi nhất định theo luật hình sự quy định. Đây là hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc trong chủ thể của tội phạm ở mọi cấu thành tội phạm, nếu thiếu một trong hai dấu hiệu này thì không thể coi là chủ thể của tội phạm mà không có chủ thể thì không thể cấu thành tội phạm. Bên cạnh các quan điểm truyền thống khi thừa nhận chủ thể của tội phạm là một thể nhân, hiện nay đã xuất hiện một số học thuyết mới như học thuyết trách nhiệm thay thế, học thuyết đồng nhất hóa và học thuyết văn hóa pháp nhân đã chỉ ra rằng pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm.
Theo đó, pháp nhân không phải là một thực thể pháp lý trừu tượng mà pháp nhân là một thực thể xã hội, do đó, pháp Luật hình sự của một số nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ thể của tội phạm là cá Luận nhân con người mà họ còn văn xem xétthạc sĩ Luật các tổ chức học Theo họ, các tổ chức (organization). mà pháp luật gọi là pháp nhân (legal person) cũng có ðủ tý cách và ðiều kiện trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, hiện nay nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Úc, Pháp… đã xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm đối với pháp nhân là xuất phát từ thực tế: một số công ty, tập đoàn tư bản vì mục tiêu lợi nhuận, làm giàu một cách nhanh chóng đã sẵn sàng phạm tội (gây ô nhiễm môi trường, trốn thuế, buôn lậu…).
Nếu chỉ xử lý một vài cá nhân với tư cách là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của pháp nhân thì chưa triệt để. Hơn nữa những cá nhân này nhân danh pháp nhân để phạm tội là mang lợi ích cho toàn công ty chứ không riêng gì lợi ích của bản thân họ. Chính vì vậy, bên cạnh việc truy cứu TNHS đối với người đại diện của pháp nhân, đòi hỏi phải truy cứu TNHS đối với pháp nhân đó bằng các biện pháp như phạt tiền, cấm hoặc hạn chế kinh doanh trong một số lĩnh vực nhất định, buộc phải giải thể… với tư cách là một biện pháp cưỡng chế hình sự. Như vậy, chủ thể của tội phạm hiện nay trên thế giới được thừa nhận rộng hơn 7 vừa là cá nhân vừa có thể là pháp nhân.
Việc các quốc gia quy định chủ thể của tội phạm chỉ là cá nhân hay vừa là cá nhân vừa là pháp nhân nó phụ thuộc vào quan điểm pháp luật, nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia. BLHS Việt Nam năm 2015 cũng đã quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại, việc quy định chủ thể tội phạm là pháp nhân thương mại đã góp phần đưa pháp luật hình sự của nước ta hội nhập với quốc tế và là một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam. Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với những chính sách kinh tế thông thoáng, Đà Nẵng ngày càng thu hút nhiều đầu tư trong và ngoài nước, phát triển mạnh về kinh tế công nghiệp cũng như du lịch… Theo con số thu thập được, tính đến năm 2015 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có hơn 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Có thể nói doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cũng góp phần vào công cuộc đổi mới, đưa thành phố Đà Nẵng phát triển và tạo việc làm cho người lao Luận động.
Tuy nhiên, thực văn tiễn cho thấythạc không ítsĩ Luật tổ chức kinhhọc tế vì chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng từ người phụ trách đến nhân viên, thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ nhất thời mà không thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Thời gian gần đây, như chúng ta đã biết, việc doanh nghiệp Fomosa đã có hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển khu vực ven biển Duyên hải Miền Trung trong đó có môi trường biển thành phố Đà Nẵng nhưng cho đến nay vẫn chưa điều tra làm rõ trách nhiệm này đối với cá nhân cũng như đối với pháp nhân nào. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, theo thống kê của tác giả từ việc phân tích số liệu của TAND thành phố Đà Nẵng thì nhận thấy, tỷ lệ pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội cũng tương đối nhiều nhưng chỉ tham gia trong vụ án với vai trò của bị đơn dân sự đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại. Theo thống kê từ năm 2012 đến năm 2016 có 46 trường hợp pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do 8 người có thẩm quyền gây ra, tập trung chủ yếu ở các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hoặc các tội về lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các tội phạm khác về kinh tế, chức vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận cho pháp nhân.
Có thể nhận thấy tình hình kinh tế càng phát triển thì tình hình tội phạm do pháp nhân, tổ chức thực hiện ngày càng tăng và càng nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với người đứng đầu, người có quyền gây ra thì cần thiết phải quy định pháp nhân thương mại là chủ thể chịu TNHS là phù hợp với tiến trình hòa nhập quốc tế hiện nay. Các loại chủ thể của tội phạm Trước đây, khi chưa ban hành BLHS năm 2015, theo quan điểm truyền thống của pháp luật hình sự, chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ có thể là cá nhân và chủ thể đặc biệt. Có nhiều quan điểm khác nhau về loại chủ thể của tội phạm.
Tuy nhiên, theo tác giả hiện nay có 3 loại chủ thể của tội phạm. Đó là: cá nhân, pháp nhân thương mại và chủ thể đặc biệt. Chủ thể củaLuận tội phạmvăn thạc sĩ Luật học là cá nhân: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự. Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi.
Để có thể có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan đòi hỏi chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi theo yêu cầu của xã hội. Hai năng lực này có thể được gọi chung trong luật hình sự là năng lực lỗi. Tuy nhiên, không phải ai có năng lực lỗi đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS. TNHS được Nhà nước quy định và thể hiện chính sách hình sự của quốc gia, trong đó có chính sách về độ tuổi phải chịu TNHS.
Theo đó, chủ thể của tội phạm còn đòi hỏi phải đạt độ tuổi chịu TNHS. Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực lỗi và đạt độ tuổi chịu TNHS. Người thỏa mãn cả hai điều kiện này được coi là người có năng lực TNHS. Trong đó, năng lực lỗi và năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội, còn độ tuổi chịu TNHS là độ tuổi 9 được luật hình sự quy định tùy thuộc vào chính sách hình sự của quốc gia vào từng thời điểm.