Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Thực trạng định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI BẮT, GIỮ HOẶC GIAM NGƢỜI TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam ngƣời trái pháp luật 1. Khái niệm định tội danh đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Quyền con người và quyền công dân nói chung, hay cụ thể là quyền tự do cá nhân, quyền tự do đi lại, quyền tự do bất khả xâm phạm về thân thể luôn được xem là một trong những quyền cơ bản của con người được Hiến pháp ghi nhận và Pháp luật quốc gia bảo vệ. Sự ghi nhận và bảo vệ của pháp luật đối với các quyền này được xem như sự đảm bảo đương nhiên đối với mỗi con người bởi nó là sự bảo đảm những vấn đề thiết yếu nhất mà mỗi con người cần có được khi sinh sống và tồn tại [29, tr.
Để khẳng định về vai trò và vị trí của các quyền tự do thân thể, tự do đi lại, tự do cá nhân, .; Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945 cũng đã nêu rõ rằng: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân” (Điều 6) hay việc mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân được nêu tại Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR). Điều này đồng nghĩa với việc, không ai được phép trước đi các quyền tự do của một người bằng việc bắt, giữ hoặc giam người mà không có lý do hoặc không tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, khoản 1 điều này cũng giải thích rõ ràng như một sự ghi nhận rằng: “Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán.
Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định” (Khoản 1 Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, các nước trên thế giới đã và đang rất coi trọng các quyền tự do cá nhân của con người, các quyền này được coi như những quyền cơ bản và bất khả xâm phạm của mỗi con người. Tại Việt Nam cũng vậy, việc thừa nhận và bảo đảm quyền con người, các quyền tự do cá nhân cũng đã được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật bảo vệ. Quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”[30]. Điều này đồng nghĩa với việc, Việt Nam cũng đã và đang coi trọng các vấn đề về nhân quyền, xác định các quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân là các quyền con người cơ bản phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Hay có thể hiểu rằng, quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể được Nhà nước bảo hộ trước bất kỳ hành vi xâm hại nào về tự do, thân thể của người khác thông qua việc ghi nhận tại Hiến pháp và cụ thể hóa bằng các điều luật theo quy định của pháp luật có liên quan điều chỉnh hành vi tước đoạt, ngăn cản sự tự do, sự bất khả xâm phạm về thân thể của người khác một cách trái pháp luật.
Việc được Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một yếu tố quyết định đến vai trò của các quyền này đối với con người. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa với việc các quyền này không thể bị xâm hại trên thực tế và nó được bảo đảm hoàn toàn bằng sự ghi nhận của Hiến pháp hay quy định của pháp luật. Các quyền này có thể bị đe dọa xâm hại và bị xâm hại bởi các hành vi bắt, giữ hoặc giam - các hành vi có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể thực hiện nhằm hạn chế, ngăn cản hoặc tước đoạt đi sự tự do, sự bất khả xâm phạm về thân thể của người khác. Các hành vi này được xem như là các hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
Khi hành vi này được thực hiện, dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi tác động đến các quyền của con người, pháp luật sẽ có những quy phạm điều chỉnh khác nhau. Quy phạm điều chỉnh mang tính nghiêm khắc nhất đối với hành vi này là các quy phạm của pháp luật hình sự. PLHS Việt Nam xác định rõ hành vi này gắn với tội danh Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017). Dưới góc nhìn khoa học pháp lý, hành vi bắt, giữ, hoặc giam người trái pháp luật là hành vi tạo ra sự hạn chế, ngăn cản hoặc tước đoạt các quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm của người khác, đồng thời hành vi này cũng được xem xét là hành vi có tính trái luật.
Đặc biệt, đối tượng mà hành vi này xâm hại là đối tượng có tính trừu tượng cao, không thể định hình cũng như định lượng, do đó sự tác động của hành vi bắt, giữ hoặc giam đến đối tượng này là vô cùng khó khăn trong quá trình xác định sự thật khách quan và xác định mức độ thiệt hại. Theo từ Đại từ điển tiếng Việt, các hành vi bắt, giữ hoặc giam là các động từ chỉ các hành động “Bắt là nắm giữ lấy, không cho hoạt động tự do” [28, tr.90]; “Giữ là làm cho ở nguyên một chỗ không xê dịch được” [28, tr.647]; “Giam là ràng buộc, không cho tự do” và “Giam cầm là bắt giữ nhốt vào một chỗ” [28, tr. Như vậy, có thể nhận thấy hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thực sự là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người. Bên cạnh đó, tính trái luật của hành vi này cũng được thể hiện rõ nét thông qua việc trực tiếp vi phạm các quy định của luật hình sự về bắt, giữ hoặc giam người.
Pháp luật hình sự chỉ cho phép bắt, giữ hoặc giam người trong các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường hợp sau: 1) Đối với hành vi bắt người, chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các căn cứ đối với bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; 2) Đối với hành vi giữ người, chỉ được thực hiện đối với những người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp không quá thời hạn pháp luật hình sự cho phép tạm giữ; 3) Đối với hành vi giam người, chỉ được phép thực hiện khi bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng nhưng có căn cứ cho rằng người này: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Dưới góc độ pháp luật hình sự, tội danh Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật cũng mang tính chất cơ bản của các tội phạm khác như: 1) Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; 2) Do người có năng lực TNHS thực hiện; 3) Được thực hiện một cách vô ý hoặc cố ý; 4) Xâm phạm đến quan hệ pháp luật được luật hình sự bảo vệ. Trong khi đó, các quyền tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người đã và đang được pháp luật hình sự bảo vệ, được quy định tại điều 157 BLHS hiện hành, do đó, việc thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật chính là thực hiện hành vi gắn với tội danh Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định của BLHS vào các vụ việc trên thực tiễn là một quá trình rất đa dạng và phức tạp, trong đó có hoạt động xem xét, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đánh giá và xác định sự tương đồng về mặt pháp lý giữa hành vi trong vụ việc thực tế và quy định của pháp luật, hay nói cách khác đó chính là hoạt động định tội danh.