PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, vấn đề tình dục ở sinh viên được toàn xã hội quan tâm. Có nhiều phán xét cho rằng việc quan hệ tình dục khi còn ngồi trên ghế nhà trường là trái với những chuẩn mực đạo đức truyền thống đã ăn sâu vào tâm trí của người Việt Nam, bên cạnh đó cũng có những ý kiến mang màu sắc hiện đại hơn, nhìn nhận vấn đề thoáng hơn rằng việc quan hệ tình dục của giới trẻ là chuyện hoàn toàn có thể chấp nhận được xét trên nhiều phương diện, miễn là họ có ý thức đúng và tri thức đúng về hành vi của họ. Nhiều người trẻ tuổi cho rằng sinh viên là những người có học vấn, có đủ kiến thức, hiểu biết về tình dục và ở đã đủ tuổi về mặt pháp lý để chịu mọi trách nhiệm về việc làm của mình.
Bối cảnh xã hội mới hiện nay cũng làm thay đổi khá nhiều những quan niệm và định kiến cũ về vai trò của người đàn ông và người phụ nữ trong tình dục, nhất là trong giới sinh viên, những người có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, kiến thức, nhiều luồng văn hóa mới, lối sống mới của phương Tây từ các sách, báo, internet… Việc quan hệ tình dục của sinh viên hiện nay là tự nguyện từ phía hai người, cả hai cùng chịu trách nhiệm chung đối với vấn đề này. Những định kiến về trinh tiết của người phụ nữ, những người chưa lập gia đình dần trở nên bớt khắt khe hơn. Bất bình đẳng giữa nam và nữ trong tình dục cũng hạn chế chế hơn, ít chênh lệch hơn. Tuy nhiên, hậu quả để lại từ việc tình dục lại nặng nề hơn ở người phụ nữ.
Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa và Gia đình năm 2009, mỗi năm nước ta có khoảng 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai (NPT), trong đó 20% ở lứa tuổi vị thành niên. Riêng tại TP.HCM, nơi tập trung số lượng các bạn trẻ sinh sống và học tập đông đảo nhất hiện nay cũng là nơi có số lượng công nhân và học sinh, sinh viên nhiều nhất cả nước. 1 Điều đáng lo ngại là những năm trước, tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên (từ 13 đến dưới 19 tuổi) chiếm 5-7% tổng số ca nạo phá thai thì năm nay đã 2tăng lên 10%. Trong số ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên có 60-70% là học sinh, sinh viên.
Nạo phá thai để lại nhiều hậu quả không hề nhỏ cho người phụ nữ, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, khả năng vô sinh sinh cao, đồng thời cũng tác động nặng nề đến tâm lý người phụ nữ.vn/2009051304204597p82c84/nao-pha-thai-o-tuoi-vi-thanh-nien-chuyen-dau-long!.htm 2 http://buonmathuot.biz/forum/archive/index.html 2 Một ảnh hưởng nữa mà người phụ nữ cũng phải chịu đựng đó là luôn thụ động trong lây nhiễm HIV từ tình dục, khi mà trong quan niệm của người Việt Nam vẫn còn những suy nghĩ cho rằng nam có thể tình dục với nhiều người phụ nữ nhưng nữ thì chỉ có thể tình dục với một người đàn ông. Ngay cả bản thân người phụ nữ đa số không cho phép mình được quyền tình dục với nhiều người đàn ông. Theo các chuyên gia, tỷ lệ phụ nữ có HIV đang tăng mạnh do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất bình đẳng giới. Phụ nữ thường thụ động trong tình dục, ít có quyền quyết định sử dụng các biện pháp phòng vệ như bao cao su dẫn đến nguy cơ mắc bệnh qua đường tình dục cao trong đó có HIV3.
Phải chăng, vẫn còn những định kiến giới trong tình dục ngay cả đối với sinh viên, là những người trẻ tuổi và là lớp người luôn đi đầu trong thực hiện phong trào bình đẳng giới. Liệu rằng bối cảnh xã hội mới hiện nay cùng những luồng văn hóa mới có làm thay đổi những quan niệm truyền thống, thay đổi lối sống của sinh viên với những định kiến xưa cũ về giới trong tình dục hay chính những định kiến đó vẫn còn tồn tại dẫn đến bất bình đẳng giới chưa thể xóa bỏ. Vì những lý do trên mà nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “ Định kiến giới trong tình dục của sinh viên”. Dựa trên những kết quả đã tìm hiểu về định kiến giới của sinh viên để thấy được có hay không sự bình đẳng trong tình dục của sinh viên hay chính những tư tưởng cũ mòn đã mang đến nhiều thiệt thòi cho người phụ nữ.
Sơ lược tình hình nghiên cứu Trong bối cảnh toàn cầu, Việt Nam đã có cơ hội tiếp xúc các các nền văn hóa đa dạng, phong phú, nhiều vấn đề xã hội thay đổi trong đó có vấn đề tình dục. có thể nói, nếu so sánh với thời gian trước đây khi mà vấn đề tình dục vẫn được xem là chuyện kín đáo, khó nói, thì ngày nay, nó ngày càng trở nên công khai hóa. Quan niệm của con người về vấn đề tình dục đã trở nên cởi mỏ hơn. Biểu hiện ở việc ngày càng có nhiều trang web thỏa luận về vấn đề giới tính, tình dục ví dụ như: Tâm sự bạn trẻ, Giadinh.net với các chuyên mục về hôn nhân, tình dục Thực tế vấn đề tình dục là vấn đề cần được quan tâm.
Khi nghiên cứu về vấn đề sinh sản của con người, người ta đã tìm ra các phương pháp phòng tránh thai để tránh việc gia tăng dân số, tình dục là một trong những con đường làm lây lan một số các bệnh như HIV/ AIDS. Chính vì tình dục có liên quan tới những vấn đề xã hội hệ trong khác nên nó ngày càng được quan tâm 3 http://www.vn/vi-VN/khcn/2009/11/122765.cand 3 và ngày nay nó đã trở thành một khoa học thật sự và được quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia. Các nghiên cứu về tình dục ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa nhiều, phần lớn các tác phẩm về tình dục thường xoay quanh vấn đề sống thử, hay quan niệm về trinh tiết, hay những vấn đề về bạo lực tình dục do bất bình đẳng giới mang lại, v. mục tiêu của những tác phẩm đó nhằm tìm ra thái độ của người Việt Nam trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay đối với vấn đề tình dục để có thề tránh được những vấn đề như nạo phá thai, hay lây truyền các bệnh qua đường tình dục.
thực tế những nghiên cứu xem tình dục như một nhu cầu bình thường của con người , tìm xem bản sắc tình dục của người việt nam, những yếu tố làm tăng chất lương tình dục của người việt nam vẫn chưa thật sâu sắc. Vấn đề giới trên thế giới không cón lạ gì kể từ sau những năm 1960 khi phong trào nữ quyên ra đời, nó đã mang lại những đề tài phong phú cho xã hội học. ban đầu, các nghiên cứu tập trung vào lấp chỗ trống trong tri thức về phụ nữ , tức chỗ trống mà sự thiên vị na giới đã để lại trước đó. Dần dần những sự chú ý chuyển sang những khía cạnh sống đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ, bao gồm công ăn, việc làm, làm mẹ, bạo lực của nam giới.4 Nghiên cứu giới ở việt nam ngày càng có nhiều triển vọng đặc biệt là sau sự ra đời của luật bình đẳng giới (2006).
Phạm vi nghiên cứu về giới ở việt Nam rất phong phú và đa dạng, nghiên cứu giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế đến hôn nhân gia đình. Có thể lấy các ví dụ như nghiên cứu phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lí: một số yếu tố tác động và các giả pháp của tác giả Nguyễn Hữu Minh và Trần thị Vân Anh, , bất bình đẳng giới về giáo dục ở việt nam hiện nay tác giả Đỗ Thiên kính, nhân thức và cán bộ lãnh đạo quản lí cấp cơ sở trong thực hiện bình đẳng giới ở miền núi phía bắc hiện nay tác giả Hoàng Kim Ngân, hình ảnh người phụ nữ trong quảng cáo tác giả Trần Thị Anh Thư, v.v Đa phần các nghiên cứu đều cho thấy đã có sự tiến triển trong việc thực hiện bình đẳng giới ở nước ta, tuy nhiên chưa có bình đẳng giới thực sự ở nước ta, nhiều vấn đề cón tồn tại trong bất bình đẳng giới như vấn để bạo lực gia đình, vấn đề nâng công ăn việc làm cho phụ nữ mà đặc biệt là phụ nữ ở những khu vực nông thôn. Nhiều định kiến giới vẫn còn tồn tại dai dẳng qua nhiều thế hệ người viêt nam. Và theo như kết luận của tác giả Trần Thị Anh Thư : khó có thể 4 Mai Huy Bích, xã hội học giới, 2009, trang 135.
4 thay đổi quan niệm giới trong sự phân công lao động hay trong cách nhìn nhận về năng lực, vị thế, và vai trò của nữ giới từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Mối quan hệ giữa định kiến giới, bình đẳng giới và tình dục Có thể nói hiện nay vấn đề tình dục của viêt nam còn rất nhiều khoảng trống, nhưng cũng đã có được những nghiên cứu nhất định về vấn đề tình dục và bất bình đẳng giới. ví dụ như tác phẩm chuyên dễ đùa khó nói của tác giả Khuất Thu Hồng, Lê Bạch Dương, Nguyễn Ngọc Hường. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là Tìm hiểu tình dục được kiến tạo như thế nào trong xã hội Viêt Nam đương đại thông qua những quan niệm, thái độ, và hành vi tình dục Tác giả đã trình bày những khái niệm về tình dục trên góc độ kiến tạo xã hội xem tình dục lả một kiến tạo xã hội.
Tác giả cho thấy được bức tranh toàn cảnh về quan niệm tình dục của người Việt Nam từ thời quan niệm Nho giáo thống trị đến thời kì xã hội chủ nghĩa, quan niệm về trinh tiết của người con gái được thay đổi qua từng thế hệ: thế hệ hội nhập, thế hệ quá độ, những đứa con của chủ nghĩa xã hội và thế hệ của chiến tranh. Phân tích các cuộc phỏng vấn thấy được các quan điểm về quyền tình dục của nữ trong đó thế hệ hội nhập từ 15-24 tuổi cho rằng nữ có quyền đòi hỏi quan hệ tình duc, nhóm nam cùng độ tuổi này không cho vấn đề trinh tiết là quan trọng họ xem đó là nhu cầu bình thường của con người. nhóm tuổi còn lại cả nam và nữ đều coi trong vấn đề trinh tiết. mặt khác bài nghiên cứu cũng chỉ ra không có sự khác biệt trong việc nhìn nhận về nhu cầu tình dục của nam nữ đối với những nghề nghiệp khác nhau ( những nghề tri thức và nông dân).
Đề tài này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính đã giúp hiểu sâu hơn về suy nghĩ của từng cá nhân về quan niệm tình dục, sự khác biệt về quan niệm tình dục giữa nam và nữ.