Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ CỘNG ĐỒNG LGBT TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về truyền thông nâng cao nhận thức 1.1 Tổng quan về truyền thông 1. Khái niệm truyền thông Trên thế giới, khái niệm “truyền thông” đã xuất hiện từ rất lâu đời. Truyền thông có gốc từ tiếng Latin là “communicare”, có nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải.
Theo từ điển Oxford: “Truyền thông là quá trình truyền đạt/ phổ biến và trao đổi thông tin bằng cách nói, viết hoặc sử dụng những phương tiện truyền thông khác”. Nhà nghiên cứu Dean C. Barnlund (1964) thì đưa ra quan điểm: truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn.1 Gerald Miler (1966) thì tiếp cận truyền thông với khía cạnh hành vi con người. Ông cho rằng, về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ.2 Tại Việt Nam, khái niệm này xuất hiện muộn hơn.
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1997 của NXB Đà Nẵng vẫn chưa có định nghĩa “truyền thông”. Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững định nghĩa: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội”. TS Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, 2006, trang13 2 PGS.
TS Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, 2006, trang14 3 PGS. TS Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, 2006, trang15 5 Mỗi định nghĩa trên có những khía cạnh hợp lí riêng, ứng với từng hoàn cảnh cụ thể.
Nhưng nhìn chung, khái niệm truyền thông bao gồm hai khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, tức là nó diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định chứ không phải hành động nhất thời; quá trình này bao gồm ít nhất hai cá thể trao đổi qua lại. Thứ hai, truyền thông phải đem lại kết quả là sự hiểu biết lẫn nhau – đây chính là mục đích và là thước đo đánh giá hiệu quả của truyền thông. Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính:4 - Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông. - Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
- Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. - Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. - Phản hồi/Hiệu quả: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận chảy về nguồn phát. - Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật,…) 1.
Một số mô hình truyền thông (1) Mô hình truyền thông của Lasswell5 Harold D. Lasswell đã đưa ra một công thức nổi tiếng khi nói về truyền thông trong nghiên cứu “The Structure and Function of Communication in Society” năm 1948 của mình: “Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai và có hiệu 4 PGS. TS Nguyễn Văn Dững, ThS. Đỗ Thị Thu Hằng, Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, 2006, trang18 5 Uma Narula, Communication Models, Atlantic Publishers & Dist, 2006, page26 6 quả gì?”(Who says what in which channel to whom with what effect?).
Theo đó, quá trình truyền thông là quá trình truyền tải thông điệp giữa nguồn phát để gây ảnh hưởng tới người nhận, thông qua các kênh truyền thông. Trong mô hình này, quá trình truyền thông được coi là quá trình một chiều, trong đó, người nhận thông điệp tiếp thu thông tin một cách thụ động, hoàn toàn bị ảnh hưởng từ nguồn phát.1: Mô hình truyền thông của H. Lasswell Tuy nhiên, Lasswell không phải là người đầu tiên nhìn nhận truyền thông bằng cách này bởi nhiều ý kiến tương tự đã được Walter Lippmann đưa ra từ năm 1922, trừ yếu tố “kênh” là điểm mới của Lasswell. (2) Mô hình truyền thông của C.
Shannon & Weaver6 Mô hình này được đưa ra vào năm 1949. Đây là một mô hình cơ bản, được sử dụng hết sức rộng rãi và được coi là một trong những mô hình truyền thông phổ biến nhất. Theo mô hình này, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (chủ thể truyền thông), sau khi trải qua quá trình mã hóa sẽ thông qua các kênh truyền thông, thông điệp sẽ được giải mã và đến với người nhận thông điệp. Ngoài ra, còn có các yếu tố nhiễu có thể gây ảnh hưởng tới tính rõ ràng, sự chính xác của thông điệp hay làm giảm khả năng tiếp nhận thông điệp của người nghe.
6 Theo http://communicationtheory.org/shannon-and-weaver-model-of-communication/ 7 Hình 1.2: Mô hình truyền thông của C. Shannon & Weaver Ngoài những đặc điểm chung kế thừa từ mô hình truyền thông của Lasswell, đặc biệt, ở mô hình này, đã xuất hiện yếu tố “phản hồi” thông tin giữa người nhận với nguồn phát, đồng nghĩa với việc khẳng định truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin 2 chiều, luôn diễn ra trong bối cảnh của các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân, đồng thời bác bỏ quan điểm về ảnh hưởng tuyệt đối của truyền thông tới đối tượng tiếp nhận. (3) Mô hình truyền thông của Roman Jakobson7 Roman Jakobson – một nhà ngôn ngữ học, đã đưa ra một mô hình truyền thông vào năm 1960 như một chu kỳ, với dạng đường vòng khép kín, trong đó bao gồm bốn giai đoạn chính như sau: phát tin, truyền tin, nhận tin, và phản hồi chứ không đơn thuần là một mô hình tuyến tính. Thông điệp sau khi được phác họa trong đầu người phát tin sẽ được mã hóa dưới dạng các tín hiệu, sẽ thông qua các kênh truyền thông sẽ được người nhận tin thu nhận, giải mã và giải thích thông điệp để có thể hiểu được ý nghĩa của thông điệp.
Cuối cùng, người nhận có thể có một phản ứng nào đó trở lại nguồn phát. Trong quá trình truyền tin, có thể có xuất hiện những yếu tố “nhiễu”, gây cản trở, không phản ánh chính xác ý nghĩa thông điệp. 7 TS Trần Hữu Quang, Giáo trình Xã hội học về Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh, trang 15 8 Hình 1.3: Mô hình truyền thông của Roman Jakobson Như vậy, điểm đặc biệt của mô hình truyền thông theo chu kỳ này là khẳng định: một thông điệp, sau khi được phát ra, luôn luôn gây ra một phản ứng nào đó về phía người nhận tin, và do đó, người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi trở lại cho người phát tin ban đầu.
Lúc này, người nhận tin cũng trở thành một người phát tin. Như vậy, quá trình truyền thông thực chất phải được hiểu như là một quá trình trao đổi thông tin giữa người này với người khác trong cuộc sống xã hội. (4) Mô hình truyền thông qua hai giai đoạn8 Mô hình này nhấn mạnh rằng quá trình truyền thông không phải lúc nào cũng đi theo con đường “từ trên xuống dưới", mà thông thường là đi theo qui luật “ngang hàng”: công chúng thường trò chuyện, tranh luận, hay tìm hiểu về một chuyện gì đó với những người thuộc cùng giới, cùng tầng lớp, cùng môi trường xã hội. Họ thường không chịu ảnh hưởng từ truyền thông đại chúng một cách trực tiếp, như một “mũi kim chích", mà thường là gián tiếp thông qua việc trao đổi, hỏi han với những người có uy tín trong các nhóm xã hội của họ, và lối 8 TS Trần Hữu Quang, Giáo trình Xã hội học về Truyền thông đại chúng, Trường Đại học Mở Tp.
Hồ Chí Minh, trang 22 9 suy nghĩ cũng như chính kiến của họ thường được xác lập thông qua những cuộc trò chuyện, giao tiếp mang tính chất liên cá nhân đó. Những người có uy tín trong các nhóm xã hội đó được coi là “người hướng dẫn dư luận” – là những người trung gian trong quá trình truyền thông.4: Mô hình truyền thông qua hai giai đoạn Như vậy, khác với các mô hình truyền thông đã đề cập ở trên, mô hình truyền thông qua hai giai đoạn này đề cao vai trò của truyền thông liên cá nhân, trong đó khẳng định tầm ảnh hưởng của những “người hướng dẫn dư luận” và nhấn mạnh, hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng chỉ diễn ra trọn vẹn khi được thông qua các mối quan hệ trong các nhóm xã hội. Khái niệm nhận thức và truyền thông nâng cao nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Theo từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1997 của NXB Đà Nẵng (trang 689), “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó”.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Sự nhận 10 thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác. Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình.
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Mức độ thấp nhất là nhận thức cảm tính, bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó con người phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan của con người. Mức độ cao hơn là nhận thức lý tính, bao gồm tư duy và tưởng tượng, trong đó con người phản ánh những cái bản chất bên trong những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật và hiện tượng.