CHƯƠNG 1 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN 1. Nhận thức khái quát và quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về căn cứ xác định giá tài sản 1. Nhận thức khái quát về căn cứ xác định giá tài sản Hiện nay, theo pháp luật Hình sự của Việt Nam có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá trị tài sản bị xâm phạm là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự mà hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác định tính chất, mức độ thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra bằng biện pháp định giá tài sản.
Định giá tài sản là biện pháp điều tra mới được quy định trong BLTTHS năm 2015. Việc xác định tính chất, mức độ thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra có ý nghĩa rất quan trọng cho việc định tội, định khung, quyết định mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại. Một nguồn chứng cứ để xác định tính chất, mức độ thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra đó chính là bản kết luận định giá tài sản. Định giá tài sản trong tố tụng hình sự là một phần hết sức quan trọng liên quan đến một số loại tội phạm được quy định cụ thể trong bộ luật hình sự, việc định giá tài sản trong tố tụng là căn cứ quan trọng trong việc xác định tội danh chính xác, đúng quy định pháp luật.
Mặt khác, định giá tài sản cũng là căn cứ để giải quyết đồng thời các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự từ đó đưa ra căn cứ chính xác để người bị hại đưa ra yêu cầu bồi thường. Theo Luật Giá năm 2012: Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ1. Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ định giá được hiểu là “Xem xét, khảo sát, đánh giá và kết luận về một sự vật hay hiện tượng mà cơ quan Nhà nước cần tìm hiểu và xác định” (Viện Ngôn ngữ học năm 2003, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr. Đồng thời, theo từ điển Bách Khoa Việt Nam về định giá trong ngành luật là “Kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan Nhà nước cần tìm hiểu và xác định” (Nguyễn Như Ý năm 1996, Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, tr.
Để giải quyết những vấn đề liên quan đến tài sản trong tố tụng hình sự, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, việc định giá tài sản sẽ được tiến hành thông 1 Khoản 5, Điều 4, Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 11tháng 12 năm 2014 về Luật Giá. 7 qua Hội đồng định giá tài sản. Định giá tài sản là hoạt động tố tụng hình sự do Hội đồng định giá thực hiện về việc thành lập, quyền, nghĩa vụ và trình tự, thủ tục định giá tài sản theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm xác định giá trị của tài sản làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Việc xác định về giá tài sản như thế nào (tùy thuộc loại tài sản, thời điểm xác định giá trị tài sản, nơi xác định giá trị tài sản…) để làm căn cứ tính tổng thiệt hại do tội phạm gây ra, qua đó đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, để bồi thường, bồi hoàn… là có ý nghĩa rất quan trọng.
Một trong những điều kiện để bảo đảm kết quả khách quan, tin cậy của hoạt động định giá tài sản là căn cứ xác định về giá tài sản. Để xác định được giá của tài sản, Hội đồng định giá tài sản phải dựa trên các căn cứ sau: - Giá thị trường của tài sản là giá giao dịch phổ biến trên thị trường của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự với tài sản cần định giá tại thời điểm định giá và địa điểm định giá được yêu cầu định giá. - Giao dịch phổ biến trên thị trường là hoạt động mua, bán tài sản được tiến hành hợp pháp và công khai trên thị trường. Một tài sản được coi là có giao dịch phổ biến khi có ít nhất 03 tài sản tượng tự có giao dịch mua, bán trên thị trường.
Mức giá giao dịch phổ biến được thu thập là giá mua, bán thực tế của giao dịch thành công; giá niêm yết của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; giá chào bán, giá chào mua; giá kê khai; giá trúng thầu; giá ghi trên hóa đơn, hợp đồng mua bán hoàng hóa, dịch vụ… + Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định là mức giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định đang có hiệu lực áp dụng tại thời điểm được yêu cầu định giá. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá tối đa, giá tối thiểu, khung giá thì áp dụng mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh quy định tại thời điểm được yêu cầu định giá; + Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp là giá được xác định theo kết quả thẩm định giá còn hiệu lực đối với tài sản được thuê thẩm định giá; + Giá trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp về loại tài sản đó do các cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp; + Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá là những thông tin, tài liệu giúp xác định giá của tài sản cần định giá, như mức độ sử dụng tốt nhất có khả năng mang lại giá trị cao nhất, hiệu quả nhất của tài sản; quan hệ cung cầu về tài sản; ý kiến đánh giá về tài sản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức, cá nhân có kiến thức, hiểu biết về tài sản; lời khai và hồ sơ tài liệu của 8 các bên liên quan đến tài sản giá của tài sản tương tự với tài sản cần định giá trong vụ án khác và đã được hội đồng định giá tài sản thực hiện định giá trước đó; giá của tài sản tương tự với tài sản cần định giá thu thập được trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức trong khu vực và trên thế giới khi Hội đồng tiến hành mở rộng thu thập giá tại khu vực và thế giới. Những quy định trên là căn cứ để xác định giá của tài sản nói chung, riêng đối với những tài sản đã thất lạc hoặc không còn thì việc xác định giá chủ yếu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến tài sản cần định giá, bao gồm: - Lời khai của chủ sở hữu: là chủ tài sản nên biết rõ đặc điểm, tình trạng của tài sản tại thời điểm cần định giá. Mặc dù tài sản đã thất lạc hoặc không còn nhưng lời khai của chủ sở hữu có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định nguồn gốc, xuất xứ tài sản, giá trị tài sản để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể từ đó làm căn cứ để thu thập các tài liệu có liên quan, phục vụ việc định giá.
- Lời khai người làm chứng: là lời trình bày của người biết được tài sản đã bị thất lạc hoặc không còn về tình trạng, đặc điểm tại thời điểm định giá hoặc biết được nguồn gốc, xuất xứ của tài sản phục vụ cho việc thu thập chứng cứ để định giá. - Các hóa đơn, chứng từ có liên quan đến tài sản: đây là một nguồn tài liệu, chứng cứ rất quan trọng, có tính quyết định đối với việc định giá tài sản trong trường hợp bị thất lạc hoặc không còn, vì các tài liệu, chứng từ thường ghi chính xác nguồn gốc xuất xứ, giá trị của tài sản, đặc điểm, tình trạng của tài sản như: hóa đơn mua bán tài sản, giấy bảo hành, giấy xuất xưởng, giấy xác nhận đưa tài sản vào sử dụng, vận hành hoặc lưu thông, giấy đăng kiểm… Các tài liệu, chứng từ tạo thuận lợi cho việc định giá tài sản bị thất lạc hoặc không còn, kết luận định giá thường khá chính xác. Dựa vào những căn cứ trên Hội đồng tiến hành định giá tài sản và ra kết luận định giá tài sản. Như vậy, có thể hiểu căn cứ xác định về giá tài sản trong tố tụng hình sự là các yếu tố được pháp luật quy định, được giao dịch thực tế làm cơ sở cho Hội đồng định giá xem xét, đánh giá và kết luận về giá trị của loại tài sản khi tiến hành định giá tài sản.
Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về căn cứ xác định giá tài sản Hoạt động định giá tài sản trong tố tụng hình sự trước đây được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ và Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. 9 BLTTHS năm 2015 ra đời, đã quy định cụ thể về định giá tài sản bao gồm: Yêu cầu định giá tài sản; thời hạn định giá tài sản; tiến hành định giá, định giá lại tài sản; định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn; định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt; kết luận định giá tài sản; quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận định giá tài sản. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018; Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 7/3/2018 để hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Theo đó, quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự.
Để hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ về định giá tài sản, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 43/2018/TT-BTC ngày 07/5/2018; sau đó ban hành Thông tư 30/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 để hướng dẫn Nghị định số 30/2018/NĐ- CP ngày 07/3/2018; Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019, thay thế Thông tư 43/2018/TT-BTC ngày 07/5/2018.