CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Một số vấn đề lý luận về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Lừa đảo là thuật ngữ khoa học pháp lý xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua và được mọi người sử dụng rộng rãi ở trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Người thực hiện hành vi lừa đảo có động cơ chính là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc cũng có thể làm (có thể bằng lời nói hoặc bằng hành động) cho người có tài sản hiểu sai sự thật mà tin tưởng mình.
Căn cứ ở góc độ pháp lý thì “Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi trái pháp luật”.72] Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai". Như vậy, qua nghiên cứu các tài liệu pháp lý, chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản, quyền tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ thể (nhà nước, tập thể hoặc cá nhân) thành tài sản của mình, hoặc cho một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm".[46] Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 qui định: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Như vậy, từ qui định trên, có thể hiểu tội Lừa đảo CĐTS bao gồm hai hành vi: Hành vi gian dối là hành vi đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý làm dịch chuyển một cách phi pháp tài sản đang thuộc sự sở hữu, quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình, qua đó làm mất đi khả năng thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản trên thực tế. Do đó, Lừa đảo CĐTS là hành vi người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình bằng cách đưa ra những thông tin không đúng sự thật làm cho người đang chiếm giữ tài sản tin mà giao, nhận nhầm hoặc không nhận tài sản. 6 Qua nghiên cứu lý luận cho thấy các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm có tính khái quát chung chung và việc nhận thức chưa đầy đủ về đặc điểm hành vi lừa đảo CĐTS trong thực tiễn hoạt động điều tra, dẫn đến việc xác định tội danh gặp nhiều khó khăn. Để xác định, cần căn cứ vào “thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản” trong cấu thành tội Lừa đảo CĐTS.
Về hình thức thì người phạm tội phải đồng thời thực hiện hai hành vi là hành vi gian dối với nạn nhân và hành vi chiếm đoạt tài sản của nạn nhân.[46] Tuy nhiên, khi xem xét không thể tách biệt mà phải đảm bảo thống nhất trong cùng vụ việc. Người phạm tội chỉ có sử dụng thủ đoạn gian dối mới làm cho người bị hại trao nhầm tài sản. Có thể hiểu rằng, người phạm tội đã sử dụng mọi phương pháp để đưa ra những thông tin không đúng sự thật, như dùng lời nói dối trá; sử dụng giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên, để che giấu hành vi của mình. Với những thủ đoạn này người phạm tội làm cho người quản lý tài sản tin nhầm tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay mà “tự nguyện” trao tài sản cho họ.
Như vậy, hành vi gian dối có những tính chất sau đây: Thứ nhất, Hành vi gian dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi chiếm đoạt, hai hành vi này có mối quan hệ nguyên nhân - kết quả một cách trực tiếp. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là nguyên nhân, điều kiện trực tiếp của kết quả, mục đích chiếm đoạt, đó là tài sản được chuyển dịch từ người quản lý sang người phạm tội. Tức là, người phạm tội chỉ thực hiện hành vi gian dối mới có thể chiếm đoạt được tài sản hay nói cách khác, chỉ có thể chiếm đoạt được tài sản khi dùng thủ đoạn gian dối. Như vậy, về mặt ý chí của người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước, sau đó mới dùng thủ đoạn gian dối làm cho người quản lí tài sản tin, trao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản.
Đây là điểm phân biệt cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm của tội Lừa đảo CĐTS là tội phạm đồng thời phải thực hiện hai hành vi là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt. Xét về tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản: nếu tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của chủ tài sản, thì hình thức chiếm đoạt là nhận tài sản từ người bị lừa dối; nếu tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người phạm tội, thì hình thức chiếm đoạt chính là giữ lại tài sản mà đáng ra phải giao cho người bị lừa dối. Chẳng hạn, do tin vào lời nói của người phạm tội nên người bị hại đã 7 nhận nhầm tài sản như: nhận thiếu, nhận sai loại tài sản đáng ra được nhận.
Do đó hành vi gian dối phải luôn luôn gắn với hành vi chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản, sau một khoảng thời gian nhất định, nạn nhân mới biết mình bị lừa đảo.[52] Cần phải hiểu rằng, không phải cứ có thủ đoạn gian dối khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì đều có thể xem là Lừa đảo CĐTS, hiểu như thế là không chính xác. Bởi vì, tùy thuộc vào đặc điểm của thủ đoạn gian dối, có thể hành vi gian dối chỉ là thủ đoạn để nhằm tiếp cận tài sản sau đó mới thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Thứ hai, Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là căn cứ để người bị hại “tự nguyện” trao tài sản.
Trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc chiếm đoạt tài sản phải được thể hiện dưới hình thức tự nguyện. Có nghĩa là, vì tin vào những thông tin sai sự thật của người phạm tội mà người bị hại đã “tự nguyện” trao tài sản cho người phạm tội, khác với trong tội Cướp hay Cướp giật, tài sản rơi vào tay người phạm tội, sự dịch chuyển tài sản từ người bị hại hoàn toàn là do hành vi vũ lực, cưỡng ép… của người phạm tội, hoàn toàn không xuất hiện yếu tộ “tự nguyện” như trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.[33] Trên thực tế có nhiều trường hợp, khi xác định tội danh rất hay nhầm lẫn tội Lừa đảo CĐTS với tội Lừa đảo CĐTS chuyển hóa thành tội Cướp tài sản. Để phân biệt, cần chú ý trong trường hợp chuyển hóa thì tội Lừa đảo CĐTS phải hình thành và chưa kết thúc (hành vi phạm tội thực sự chấm dứt trên thực tế, người phạm tội nhận thấy không cần thực hiện thêm bất cứ một hành vi phạm tội nào khác. Ở đây, tội phạm chưa kết thúc là người phạm tội chưa đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản).
Từ những phân tích ở trên, khái niệm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể hiểu như sau: “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phạm được qui định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm tưởng, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội”.2 Dấu hiệu pháp lý 1. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội Lừa đảo CĐTS Thứ nhất, trong cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khách thể của tội phạm là những quan hệ sở hữu về tài sản, đây là quan hệ xã hội chủ yếu mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại. 8 Do đặc điểm của hành vi, nên tội này chỉ xâm hại đến một khách thể là quan hệ sở hữu tài sản. Đây là điểm khác nhau giữa tội Lừa đảo CĐTS với một số tội xâm phạm sở hữu khác, xâm hại đồng thời nhiều khách thể khác nhau như tội Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…, đồng thời, đây cũng là cơ sở giúp cho việc định tội danh một cách chính xác.
Vì vậy, để phân biệt được tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội nêu trên, cần phải xác định khách thể của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, còn đối với các tội Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…, ngoài quan hệ sở hữu thì còn có khách thể quan trọng khác đó là quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người bị hại. Quan hệ sở hữu là quan hệ trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ. Quan hệ này bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thông qua làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vật chất (tài sản) là một bộ phận của quan hệ sở hữu. Như mọi hành vi phạm tội khác, hành vi xâm phạm sở hữu cũng có đối tượng tác động cụ thể đó là tài sản.
Tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản. Tài sản là đối tượng xâm hại của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, bởi vì những gì không thuộc về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Tài sản được thể hiện dưới bất cứ hình thức sở hữu nào và phải được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì quyền về tài sản không phải là đối tượng tác động của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.