CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG VIỆC KHÔNG TIÊU CHUẨN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1.1 Cơ sở lý luận về công việc không tiêu chuẩn 1.1 Khái niệm công việc không tiêu chuẩn Thuật ngữ “công việc” vừa là một khái niệm cơ bản, thông dụng vừa là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Công việc là “ cái phải làm để sinh sống hàng ngày”2. Như vậy, thuật ngữ “công việc” trước hết được hiểu một cách đơn giản nhất là điều gì, cái gì mà con người cần phải làm, lao động để duy trì sự sống tối thiểu của hàng ngày. Công việc luôn gắn liền với chủ thể là con người.
Quan công việc chúng ta thường gọi chung là lao động. Bởi vì lao động là khái niệm luôn gắn liền với con người. Khi con người lao động là hoạt động của họ có chủ đích. Hoạt động này vừa thể hiện trách nhiệm, bổn phận của mỗi con người đồng thời cũng thể hiện quyền của họ trong hoạt động của lao động.
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Luật Lao Động nước ta đã khẳng định và cụ thể hóa quyền lao động và bảo đảm công việc của NLĐ. Do đó, chính sách về việc làm của NLĐ là một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính sách này thông qua việc tạo việc làm, đảm bảo việc làm, phân bố ngành kinh tế phù hợp nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội. Chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng bước thực hiện được mục tiêu đó.
Bởi BLLĐ quy định về việc làm, công việc theo tiêu chuẩn, những điều kiện cơ bản của một số công việc phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn làm việc. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Vì vậy, việc tìm hiểu khái niệm công việc không tiêu chuẩn (CVKTC) trước hết cần phải làm rõ khái niệm “công việc” dưới góc độ nhìn nhận 2 https://vi.org/wiki/vi%E1%BB%87c#Ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t, truy cập ngày 20/1/2022. 11 “công việc” chính là việc làm của NLĐ.
Khái niệm CVKTC hình như vẫn còn xa lạ, bỏ ngỏ với pháp luật lao động Việt Nam hiện nay. Căn cứ theo BLLĐ 2019, Điều 3 khoản 5 quy định về khái niệm quan hệ lao động: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên CVKTC (hay còn gọi là “công việc phi tiêu chuẩn”) không có đầy đủ những yếu tố đặc điểm của việc xác lập QHLĐ theo pháp luật lao động nêu trên. Từ đó các nội dung của nội hàm về QHLĐ cũng không đầy đủ, dẫn đến không đủ cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, đồng thời cũng dễ dẫn đến mâu thuẫn của việc xác lập các CVKTC đối với NLĐ.
Ví dụ như đặc điểm về thời gian lao động, đặc điểm về sự thỏa thuận bình đẳng trong giao kết hợp đồng; chế độ thuế, bảo hiểm xã hội như quy định ở BLLĐ 2019 mà hiện nay một số công việc như tài xế công nghệ đang làm việc đông đảo vẫn chưa có những chính sách rõ ràng. Vậy nên, CVKTC được hiểu là khi xác lập QHPLLĐ, NLĐ làm việc với CVKTC sẽ có những quyền lợi không được đảm bảo như một QHPLLĐ được ký kết giữa NLĐ với người sử dụng lao động thông thường. Trên thực tế hiện nay, các CVKTC tồn tại rất nhiều khi mà với mô hình kinh tế chia sẻ ngày càng phát triển trong thời đại công nghệ 4. Ở BLLĐ 2019, chúng ta hiểu dù là công việc tiêu chuẩn hay CVKTC cũng cần phải được xem xét dưới góc độ của các yếu tố là NLĐ, NSDLĐ và xác lập QHPLLĐ để thấy những đặc điểm của chúng.
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái niệm công việc từ nhiều góc độ khác nhau và CVKTC, xét thấy khái niệm CVKTC chưa được đề cập tại các văn bản pháp lý kể cả BLLĐ 2019, qua đây có thể đưa ra khái niệm CVKTC như sau: CVKTC là thuật ngữ dùng để chỉ các thỏa thuận làm công việc khác nhau đi lệch hướng với công việc tiêu chuẩn. CVKTC bao gồm công việc tạm thời; công việc bán thời gian; công việc theo yêu cầu; công việc tự do; công việc trên thực tế NLĐ làm việc như là toàn thời gian, thậm chí vượt cả thời gian theo quy định thời gian làm việc của BLLĐ và trong một khoảng thời gian dài và có thu nhập, có phát sinh một số điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật lao động, nhưng lại không hình thành QHPLLĐ, 12 HĐLĐ được xác lập không theo quy định của pháp luật lao động; hay nói cách khác là pháp luật lao động chưa thật sự đủ cơ sở pháp lý để quy định chặt chẽ nội dung này, chẳng hạn như tài xế công nghệ (Grab, Shopee), dịch vụ giúp việc nhà qua ứng dụng, công việc thỏa thuận bằng lời nói với NSDLĐ, dịch vụ lưu trú thông qua ứng dụng (Airbnb), v. Về khái niệm công việc • Dưới góc độ kinh tế, xã hội Công việc chính là cách gọi khác của việc làm gắn liền với NLĐ và là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Việc làm dưới góc độ kinh tế được gọi “là hoạt động kiếm sống”3.
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của thế giới nói chung và con người nói riêng. Vì vậy, có thể thấy việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình. Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội.
Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.
NLĐ được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội 4. Nhờ có việc làm mà NLĐ mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Mỗi công việc có thể phản ánh một 3 https://luatduonggia.vn/phan-tich-khai-niem-vai-tro-va-y-nghia-cua-viec-lam/, cập nhật ngày 20/10/2020.org/sites/default/files/201908/5%2520Viec%2520lam%2520va%2520Thi%2520truong%252 0Lao%2520dong.pdf, cập nhật ngày 20/10/2020. 13 vị trí, vai trò và cả trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của NLĐ với công việc ấy.
Mỗi công việc phản ánh một giá trị kinh tế và xã hội mà NLĐ mang lại trong suốt quá trình thực hiện công việc đó. • Dưới góc độ pháp lí Theo quan niệm quốc tế: ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc.
Dẫn chiếu theo khái niệm này, với người thất nghiệp “là người không có việc làm, đang tích cực tìm việc” và giả sử họ tìm được công việc nhưng chỉ làm với vị trí nhân công theo ngày hoặc một số công việc không theo những điều kiện, tiêu chuẩn của BLLĐ về việc làm thì có được gọi là công việc hay không và pháp luật lao động điều chỉnh các công việc này như thế nào? Theo quan niệm của Việt Nam: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm5”. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Thứ nhất, là hoạt động lao động: Thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định.
Thứ hai, tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập. Thứ ba, tính hợp pháp: Hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tùy theo điều 5 Khoản 1 Điều 9 Bộ luật lao động năm 2019 14 kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm.
Khái niệm về việc làm theo quy định của Việt Nam hiện hành mang tính khái quát cao, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Chẳng hạn như hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Hoặc khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán.