LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay có khoảng 900 các INGO hoạt động ở Việt Nam, và có xu hướng ngày càng tăng về số lượng các tổ chức, số lượng các chương trình. INGOs vừa có tác động tích cực, vừa có mặt hạn chế đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và đối ngoại, an ninh, xã hội của Việt Nam. Kể từ khi các INGOs hoạt động ở Việt nam, lĩnh vực được ưu tiên hướng tới đầu tiên luôn là XĐGN.
“Trong ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tích giảm nghèo ấn tượng theo bất cứ chuẩn mực nào nhưng nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành” (Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012- WB). Hoạt động của INGOs trong XĐGN tại Việt Nam được ghi nhận là hiệu quả, đóng góp nhiều lợi ích tích cực và giúp thay đổi cuộc sống của hàng triệu người tiếp nhận dự án. Các INGOs đóng góp rất lớn vào công tác XĐGN tại Việt Nam và được Chính phủ, chính quyền các địa phương và người dân ở đó thừa nhận. Đặc biệt, trong quá trình trực tiếp tham gia công tác XĐGN ở Việt Nam, các INGOs đã giới thiệu và áp dụng nhiều biện pháp, kinh nghiệm để tiến hành các dự án XĐGN hiệu quả, bền vững.
Trong thời gian thực hiện dự án ở Việt Nam, INGOs gặp rất nhiều vướng mắc như các thủ tục hành chính rườm rà, cách thức quản lý chồng chéo, khó tiếp cận với người dân. Nguyên nhân là do chính phủ chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý và các chính sách chưa hoàn thiện nhằm huy động tích cực nguồn tài trợ, nâng cao vai trò của các NGO trong XĐGN ở Việt Nam. Năm 2006-2016 là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, khủng hoảng tài chính và nợ công diễn ra liên miên, INGOs cũng bị ảnh hưởng rất lớn khiến nguồn quỹ hoạt động biến động theo chiều hướng giảm dẫn đến phải điều chỉnh đối tượng thụ hưởng cũng như viện trợ, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh ấy. Bên cạnh đó, các INGO đến Việt Nam hoạt động và sẽ rút khỏi việt Nam sau một thời gian nhất định, khó có một tổ chức INGO nào cam kết hoạt động 2 vĩnh viễn, trong khi đó kinh tế Việt Nam nay đã phát triển đạt mức thu nhập bình quân đầu người trung bình thấp, nên Việt Nam không còn nằm trong tiêu chí ưu tiên của nhiều INGO trên toàn cầu.
Theo chiến lược phát triển chung, đến năm 2020 Việt Nam tương lai trở thành một nước công nghiệp và sau thời điểm đó, ODA và viện trợ PCPQT dành cho Việt Nam sẽ giảm dần để chuyển sang các nước kém phát triển hơn. Thời gian còn lại không phải là nhiều. Do vậy, Việt Nam càng cần phải sớm hoàn thiện các chính sách và phương pháp hợp tác giữa Chính phủ và các INGO một cách hợp lý và thiết thực hơn vì mục tiêu tăng cường huy động, khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn viện trợ của INGOs, góp phần PTKT –XH và giảm nghèo ở Việt Nam. Toàn cầu hóa kinh tế ngày càng sâu rộng, mức độ phân hóa ngày càng rõ rệt, khoảng cách giàu nghèo có xu thế ngày càng lớn.
Chính vì vậy XĐGN là vấn đề chung của mọi Quốc gia và để hướng tới mục tiêu bền vững thì cần có sự giúp sức tích cực từ INGOs. Do vậy việc nghiên cứu thực trạng điều chỉnh chính sách đối với INGOs trong XĐGN ở Việt Nam và từ đó đưa ra một số gợi ý điều chỉnh chính sách cho Chính phủ có ý nghĩa thực tiễn, quan trọng xét từ góc độ phát triển bền vững. Đó là công trình khoa học cấp bách cần được thực hiện để thực hiện để đưa ra các giải pháp căn bản, lâu dài trên tư duy “hợp tác cùng phát triển” không chỉ đơn thuần là “nhận viện trợ” như trước đây. Vì những lý do như vậy nên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Điều chỉnh chính sách của Nhà nước Việt Nam để phát huy vai trò của các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Theo tổng hợp của tác giả, tính đến thời điểm hiện tại tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về VGNOs và INGOs. Các nghiên cứu về NGO được thể hiện dưới dạng các đề tài khoa học, luận văn, luận án, bài báo hay bài tham luận trong các hội thảo, hội nghị. Phần lớn các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực hoạt động cũng như cách thức quản lý của Nhà nước đối của NGOs. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước như sau: 3 2.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài a, Công trình nghiên cứu “International Non- Govement Organization have contrỉbuted to Improving the Relation between Vietnam and the International Community- Các TCPCP quốc tế góp phần nâng cao mối quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế” của GS. John McAuliff, Friendship Magazine, Number 6, November 2003). Đây là bài báo được đăng tạp chí Hữu nghị của Mỹ, phân tích về các hoạt động của INGOs hiện đang có mặt tại Việt Nam, bên cạnh các chương trình mục tiêu xã hội, INGOs đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy quan hệ đối ngoại chính thức và phi chính thức của Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ và các TCXHQT. b, Công trình nghiên cứu “Improve Close Link between Government and Non Govement Organizations - Nâng cao mối quan hệ chặt chẽ giữa Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ” của TS.
Heckman Toler, Public Administration Institute, USA, 2003. Tác giả đã đưa ra các khung lý thuyết về sự giống nhau và khác nhau về cách điều hành hoạt động của INGOs, từ đó công trình đã đề cập đến mối quan hệ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ giữa hai tổ chức này. Đặc biệt công trình chú ý đến khía cạnh đẩy mạnh nâng cao hiệu quả QLNN đối với các INGOs theo xu hướng coi đây là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình xã hội hóa nguồn vốn đầu tư phát triển KT-XH, giảm bớt nguồn vốn ngân sách nhà nước. Muốn vậy giữa Chính phủ và các INGOs cần thắt chặt trong quá trình liên kết, họp tác để phát triển đất nước trên cơ sở nhà nước chỉ kiểm soát một số lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến đạo đức xã hội, an ninh quốc gia, còn lại các lĩnh vực khác cần có các khung thiết chế thông thoáng nhằm tạo môi trường cho các INGOs hoạt động mở rộng.
Mặt khác, công trình nghiên cứu cũng phân tích vị trí, vai trò quan trọng của các INGOs trong và ngoài nước còn là nhân tố tác động quan trọng xu thế hội nhập quốc tế của các quốc gia, vùng lãnh thổ. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước a, Bài viết nghiên cứu: “ Đổi mới phương thức quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” ( Tạp chí kinh tế đối ngoại, số 3, 2011) của tác giả Nguyễn Kim Ngọc đã phân tích những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với công tác quản lý NGOs của Đảng và Nhà nước ta, trong đó nhấn mạnh ý nghĩ và tầm quan trọng về kinh tế- xã hội của INGOs tại Việt Nam thời gian qua. b, Công trình nghiên cứu “ Thực trạng và giải pháp về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tổ chức phi chính phủ Việt nam trong thời kì đổi mới” của tác giả Đỗ Sơn Hà (2009) đã đưa ra khái niệm, vai trò của NGO trong đời sống xã hội Việt Nam và đời sống chính trị Quốc tế, thực trạng QLNN đối với NGOs… tuy nhiên chưa làm rõ được khái niệm INGO và cụ thể vai trò của INGOs trong XĐGN. c, Luận văn thạc sĩ “ Vai trò của các tổ chức phi chính phủ Hàn Quốc đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo và PTKTXH Việt Nam giai đoạn 2003-2013” của Lê Hồng Hạnh ( 2013) đã tìm hiểu cụ thể hoạt động của các NGO Hàn Quốc đóng góp vào XĐGN tại Việt Nam trên mọi lĩnh vực: viện trợ khẩn cấp, đào tạo dạy nghề, giáo dục, phát triển sinh kế ở nông thôn tổng hợp, y tế, môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo trợ xã hội và các lĩnh vực khác.
Bên cạnh đó luận văn cũng phân tích và khẳng định các NGO Hàn Quốc có đóng góp tích cực trong công cuộc XĐGN và PTKT tại Việt Nam giai đoạn 2003- 2013. d, Vũ Thị Thu Giang (2008), đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 7 (tr 49- 60) với bài viết nghiên cứu : Hoạt động của các TCPCP Mỹ ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay; Từ thực trạng nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa - xã hội, tôn giáo, các lĩnh vực từ thiện, nhân đạo, XĐGN, chiến tranh, phát triển bền vững, trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những nhận đánh giá về hoạt động của các tổ chức này. e, Công trình nghiên cứu “ Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ kĩ thuật, tăng cường năng lực cho người dân và đối tác địa phương miền núi phía Bắc” của Lê Văn Sơn ( 2005) đã đánh giá thực trạng đời sống kinh tế- xã hội của huyện Si ma cai, tỉnh Lào Cai còn rất nhiều khó khăn so địa hình hiểm trở, 5 đường xá không thuận tiện, canh tác lạc hậu và các phương tiện sản xuất giản đơn. Qua đánh giá và phân tích, công trình nhận định về sự tham gia của NGOs trong việc hỗ trợ kĩ thuật không chỉ đem lại lợi ích cho huyện Si ma cai mà còn cho các đối tượng địa phương ở miền núi phía Bắc tăng được năng suất lao động, chuyển đổi hình thức sản xuất và từ đó giảm nghèo đói hiệu quả.
f, “Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam” bài báo đăng trên tạp chí Lý luận chính trị (5-2008, tr 54-58) của tác giả Đôn Tuấn Phong nghiên cứu và phát hiện ra quan hệ đối tác được nhắc tới trong các dự án của INGOs và quan hệ này càng ngày càng phát triển ở cả cấp địa phương và TW. Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra những mặt tích cực trong hoạt động của INGOs đó là việc viện trợ tuy không lớn nhưng rất kịp thời, trực tiếp và góp phần vào thực hiện các mục tiêu cấp bách như khắc phục thiên tai, XĐGN, .