Luận Văn Thạc Sĩ Về Diện và Hàng Thừa Kế Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự Năm 2005

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích diện và hàng thừa kế theo Bộ luật Dân sự năm 2005, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

91
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ

1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

1.2. Di sản thừa kế

1.3. Người để lại di sản thừa kế

1.4. Người thừa kế

1.5. Diện và hàng thừa kế

1.5.1. Khái niệm diện thừa kế

1.5.2. Khái niệm hàng thừa kế

1.5.3. Diện và hàng thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới

1.5.3.1. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Nhật Bản
1.5.3.2. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Pháp
1.5.3.3. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Iran

2. CHƯƠNG 2: DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1. Diện thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

2.1.1. Diện thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống

2.1.2. Diện thừa kế dựa trên quan hệ hôn nhân

2.1.3. Diện thừa kế dựa trên quan hệ nuôi dưỡng

2.2. Hàng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

2.2.1. Hàng thừa kế thứ nhất

2.2.2. Hàng thừa kế thứ hai

2.2.3. Hàng thừa kế thứ ba

2.3. Những trường hợp không được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT NHỮNG TRANH CHẤP VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

3.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế giai đoạn từ năm 2007 đến nay

3.2. Thực trạng giải quyết tại Tòa án nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế, Thành phố Đà Nẵng

3.3. Nguyên nhân của thực trạng qua thực tiễn xét xử tại tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng

3.4. Những kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Diện Và Hàng Thừa Kế Theo Bộ Luật Dân Sự 2005

Diện và hàng thừa kế là hai khái niệm quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, đặc biệt là trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Diện thừa kế xác định những người có quyền thừa kế, trong khi hàng thừa kế xác định thứ tự ưu tiên giữa các người thừa kế. Việc hiểu rõ về diện và hàng thừa kế giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong các tranh chấp thừa kế.

1.1. Khái Niệm Diện Thừa Kế Trong Pháp Luật Việt Nam

Diện thừa kế được quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2005, bao gồm những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Điều này đảm bảo rằng những người có mối liên hệ gần gũi với người đã khuất sẽ được ưu tiên trong việc thừa kế.

1.2. Khái Niệm Hàng Thừa Kế Theo Bộ Luật Dân Sự 2005

Hàng thừa kế được phân chia thành các hàng khác nhau, bao gồm hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Mỗi hàng có những quy định cụ thể về quyền thừa kế, giúp xác định ai sẽ nhận di sản khi người để lại di sản không có di chúc.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Diện Và Hàng Thừa Kế

Mặc dù Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định rõ ràng về diện và hàng thừa kế, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong thực tiễn. Các tranh chấp về thừa kế ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong các gia đình có nhiều thành viên và tài sản lớn.

2.1. Những Tranh Chấp Thường Gặp Về Diện Thừa Kế

Tranh chấp về diện thừa kế thường xảy ra khi có sự không đồng thuận giữa các thành viên trong gia đình về việc xác định ai là người thừa kế hợp pháp. Điều này có thể dẫn đến những vụ kiện kéo dài và tốn kém.

2.2. Thách Thức Trong Việc Xác Định Hàng Thừa Kế

Việc xác định hàng thừa kế cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong các trường hợp có nhiều người thừa kế cùng hàng. Sự không rõ ràng trong quy định pháp luật có thể dẫn đến những tranh chấp không đáng có.

III. Phương Pháp Giải Quyết Tranh Chấp Về Diện Và Hàng Thừa Kế

Để giải quyết các tranh chấp về diện và hàng thừa kế, cần có những phương pháp hiệu quả nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên. Việc áp dụng pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất là rất quan trọng.

3.1. Giải Quyết Tranh Chấp Qua Tòa Án

Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Việc đưa vụ việc ra tòa giúp các bên có cơ hội trình bày quan điểm và chứng minh quyền lợi của mình.

3.2. Hòa Giải Trước Khi Đưa Ra Tòa

Hòa giải là một phương pháp hiệu quả giúp các bên tìm ra giải pháp chung mà không cần phải ra tòa. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn giúp duy trì mối quan hệ gia đình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Diện Và Hàng Thừa Kế

Việc áp dụng các quy định về diện và hàng thừa kế trong thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người thừa kế. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc hiểu rõ về pháp luật có thể giúp giảm thiểu tranh chấp.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tranh Chấp Thừa Kế

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều tranh chấp thừa kế phát sinh từ sự thiếu hiểu biết về pháp luật. Việc nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân là cần thiết để giảm thiểu các vụ kiện.

4.2. Thực Tiễn Giải Quyết Tranh Chấp Tại Tòa Án

Thực tiễn cho thấy rằng nhiều vụ án thừa kế được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả khi các bên có sự hợp tác và thiện chí. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc thương lượng và hòa giải.

V. Kết Luận Về Diện Và Hàng Thừa Kế Theo Bộ Luật Dân Sự 2005

Diện và hàng thừa kế là những vấn đề quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Việc hiểu rõ và áp dụng đúng các quy định về diện và hàng thừa kế sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người thừa kế và giảm thiểu tranh chấp.

5.1. Tương Lai Của Quy Định Về Thừa Kế

Cần có những cải cách trong quy định về thừa kế để phù hợp với thực tiễn xã hội. Việc cập nhật và hoàn thiện pháp luật sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người thừa kế tốt hơn.

5.2. Đề Xuất Hoàn Thiện Quy Định Pháp Luật

Đề xuất hoàn thiện quy định về diện và hàng thừa kế nhằm giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế. Cần có sự tham gia của các chuyên gia pháp lý và cộng đồng trong quá trình này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls diện và hàng thừa kế theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế. Thừa kế và quyền thừa kế Điều 58 Hiến pháp 1992 của Việt Nam quy định "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" [19]. Quyền sở hữu, quyền thừa kế của mỗi cá nhân, mỗi con người cụ thể được nhà nước bảo hộ về mặt pháp lý.

Hiến pháp 1992 là văn bản có giá trị cao nhất của nhà nước Việt Nam, từ những quy định trong Hiến pháp mà quyền thừa kế được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật liên quan. Trước khi tìm hiểu khái niệm quyền thừa kế chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm thừa kế. Vậy thừa kế là gì? Theo Từ điển tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho" [54]. Theo Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế được hiểu là: "Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống" [56].

Quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế là hai bộ phận không thể tách rời nhau, nó thường đi liền với nhau trong các quan hệ xã hội, quan hệ thừa kế phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, có quan hệ sở hữu thì sẽ có quan hệ thừa kế, và ngược lại có quan hệ thừa kế thì sẽ xuất hiện chế độ sở hữu. Như vậy, thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Trong thời kỳ Công xã nguyên thủy, đã xuất hiện việc dịch chuyển tài sản của những người đã chết cho những người còn sống có quan hệ huyết thống. Đây là giai đoạn chưa xuất hiện nhà nước nên pháp luật chưa xuất hiện, đến cuối thời kỳ Công xã nguyên thủy mầm mống của nhà nước xuất hiện và đến khi nhà nước xuất hiện thì pháp luật ra đời.

Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này chưa điều chỉnh hết các quan hệ xã hội, đối 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các quan hệ về sở hữu và thừa kế thì mỗi một nhà nước thường hướng sự điều chỉnh của các quy phạm phạm luật theo hướng bảo vệ quyền lợi tuyệt đối của giai cấp thống trị và quyền thừa kế được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật của mỗi nhà nước. Điều 674 BLDS năm 2005 quy định: «Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định». Với những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo các hàng thừa kế mà pháp luật đã quy định và thừa kế theo pháp luật chỉ đặt ra trong trường hợp người để lại di sản không định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; Cũng theo quy định của BLDS hiện hành thì thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế. Quyền thừa kế được xem xét rất nhiều góc độ.

Với tính chất là một chế định pháp luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định. Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng như các phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể trong quan hệ thừa kế. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 631 BLDS năm 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật[6]. Như vậy, quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về thừa kế, về việc bảo vệ và dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống.

Di sản thừa kế Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế cùng tồn tại song song trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau, chỉ đạo, chi phối lẫn nhau, cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, quyền sở hữu luôn gắn liền với mỗi con người, được nhà nước bảo hộ về mặt pháp lý, cá nhân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng…Khi người đó còn sống họ có quyền mang những tài sản thuộc sở hữu của mình ra sử dụng cho các mục đích của mình nghĩa là đưa những tài sản mình có ra lưu thông dân sự, kinh doanh thu lợi nhuận hay phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hoặc họ có thể lập di chúc để định đoạt những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của họ, để lại tài sản đó cho người khác, cũng có những trường hợp người có tài sản không định đoạt khối tài sản của mình bằng việc lập di chúc do đó khi họ chết đi khối tài sản mà họ có sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc diện và hàng thừa kế của họ theo quy định của pháp luật dân sự. Khi một người chết đi toàn bộ khối tài sản thuộc sở hữu của người đó sẽ được gọi là di sản thừa kế. Điều 634 BLDS 2005 quy định: Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác[6].

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với quy định này của BLDS 2005 tuy ngắn gọn nhưng đã đầy đủ và rất chính xác. Bộ luật dân sự 2005 cũng đã có quy định cụ thể thế nào là tài sản. Tại Điều 163 BLDS 2005 quy định:"Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [6]. Theo đó, những tài sản thuộc quyền sở hữu của một người, kể cả các quyền tài sản sau khi chết sẽ trở thành di sản thừa kế.

Những tài sản mà người đó để lại có thể là những tài sản vật chất hữu hình có thể nhìn thấy được, cầm nắm được như tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, nhà cửa… hay là những quyền tài sản của người đó. Theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Vậy, các quyền về tài sản đó là quyền đòi tài sản đã cho mượn, cho thuê, quyền chuộc lại tài sản đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản, hưởng những quyền tác giả hoặc quyền chủ sở hữu văn bằng, sáng chế, giải pháp hữu ích. Tuy nhiên, quyền tài sản gắn với nhân thân của người chết như tiền cấp dưỡng, tiền lương hưu không được coi là di sản thừa kế.

Những tài sản của người chết để lại có thể là những tài sản riêng của người chết, có thể là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo lập ra bằng thu nhập hợp pháp như: Tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền nhuận bút, tiền trúng thưởng xổ số. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, không hạn chế về số lượng và giá trị. Đối với tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Theo đó, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 Luật HNGĐ năm 2000 đó là những trường hợp mà Luật HNGĐ năm 2000 cho phép vợ chồng chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như chia tài sản chung để kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng; đồ dùng, tư trang cá nhân mà người đó không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, với sự phát triển của đời sống xã hội, quan hệ sở hữu, hình thức sở hữu ngày càng phong phú muôn màu, muôn vẻ. Một cá nhân không những có tài sản thuộc sở hữu riêng mà có thể còn có những phần tài sản thuộc sở hữu chung với người khác. Phần tài sản thuộc sở hữu chung này có thể là phần tài sản nằm trong khối tài sản chung hợp nhất giữa vợ và chồng hay phần tài sản thuộc sở hữu chung theo phần của người chết do góp vốn làm ăn với người khác.

Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung" [24]. Những tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này. Ông cha ta thường có câu “của chồng, công vợ” do đó rất khó để xác định công sức đóng góp của mỗi người trong việc tạo lập khối tài sản chung của vợ chồng nên khi một bên chết trước về nguyên tắc được chia đôi, phần của người chết được xác định là di sản thừa kế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Diện và Hàng Thừa Kế Theo Bộ Luật Dân Sự 2005" cung cấp cái nhìn tổng quan về quy định pháp luật liên quan đến diện và hàng thừa kế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giải thích các khái niệm cơ bản mà còn phân tích các quy định cụ thể, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình thừa kế.

Đặc biệt, tài liệu mang lại lợi ích cho những ai đang tìm hiểu về thừa kế, từ các luật sư, sinh viên luật cho đến những người dân có nhu cầu nắm bắt thông tin pháp lý. Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam", nơi cung cấp phân tích sâu hơn về các quy định thừa kế.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khái niệm và quy định liên quan. Cuối cùng, tài liệu "Thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh" sẽ cung cấp cái nhìn thực tiễn về thừa kế trong lĩnh vực quyền sử dụng đất, một vấn đề rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nắm bắt rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến thừa kế.