phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật Chƣơng 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại cơ sở Bảo trợ xã hội tổng hợp tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại cơ sở Bảo trợ xã hội tổng hợp tỉnh Bắc Giang. 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1. Một số khái niệm trong đề tài 1.
Khái niệm công tác xã hội Hiệp hội quốc gia các NVXH Mỹ-NASW định nghĩa: CTXH là một chuyên ngành đƣợc sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng nhằm tăng cƣờng hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc những mục tiêu ấy (năm 1970) Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp CTXH Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montréal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con ngƣời, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con ngƣời, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con ngƣời và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ. Hiệp hội CTXH quốc tế và các trƣờng đào tạo CTXH (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH nhƣ sau: CTXH hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con ngƣời và thúc đẩu sự thay đổi xã hội, tăng cƣờng sự trao đổi quyền và giải phòng quyền lực nhằm nâng cao chất lƣợng sống của con ngƣời.
CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con ngƣời và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tƣơng tác của con ngƣời với môi trƣờng sống. - Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội thế giới thì: Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ tƣơng tác, tăng năng lực và tạo khả năng giải phóng con ngƣời nhằm thúc đẩy an sinh xã hội. Sử dụng các học thuyết về hành vi 15 con ngƣời trong môi trƣờng xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những điểm khi con ngƣời tƣơng tác với các môi trƣờng của mình. Nhân quyền và công bằng xã hội là những nguyên tắc nền tảng của nghề công tác xã hội.
Theo quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tƣởng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2010 (sau đây gọi tắt là Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ): CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con ngƣời và con ngƣời, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của thân chủ xã hội, hƣớng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho ngƣời dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [9] Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (năm 2010) định nghĩa thì: “ CTXH có thể đƣợc hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mọi ngƣời dân, hƣớng tới tiến bộ và công bằng xã hội [6] Nhƣ vậy, có thể thấy rằng có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về CTXH, trong nghiên cứu này tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa của Tiến sĩ Nguyễn Trung Hải (năm 2019): CTXH là một nghề đặt trọng tâm vào các hoạt động thực hành và được pháp luật, xã hội công nhận. Với triết lý nhân văn, dựa trên hệ thống lý thuyết đặc thù và các bằng chứng khoa học, công tác xã hội cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu, giải quyết các vấn đề cũng như đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của thân chủ, Ngoài ra CTXH còn phối hợp với các bộ, ban ngành cũng như cơ quan tổ chức, các hội đoàn thể,. nhằm đề xuất phát triển hệ thống chính sách, nâng cao chất lượng sống và đảm bảo an sinh xã hội tốt nhất cho con người 16 1. Khái niệm về nhân viên công tác xã hội Nhân viên xã hội là ngƣời đƣợc đào tạo và trang bị các kiến thức, kỹ năng trong CTXH, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tƣợng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tƣợng tiếp cận đƣợc nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tƣơng tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trƣờng tạo ảnh hƣởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn (Theo Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế, IFSW) Nhân viên CTXH là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề CTXH (theo DuBois and Miley, 2005: 5) Từ những khái niệm trên cho thấy: nhân viên CTXH là ngƣời đƣợc đào tạo về chuyên môn; là ngƣời trợ giúp cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải họ; NVCTXH là ngƣời thúc đẩy cung cấp dịch vụ trợ giúp và sử dụng nguồn lực có hiệu quả đồng thời tham gia vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội.
Khái niệm về người khuyết tật, dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật Theo Công ƣớc quốc tế về quyền của ngƣời khuyết tật năm 2006 định nghĩa “Ngƣời khuyết tật bao gồm những ngƣời có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tƣơng tác với những rào cản khác nhau có thể cản trở đến sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng nhƣ những ngƣời khác trong xã hội”. Ở Việt Nam hiện đang sử dụng khái niệm theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Ngƣời khuyết tật số 51/2010/QH12 của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010 nhƣ sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm 17 chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [7]. Theo quy định này thì ngƣời khuyết tật là những cá nhân có đủ các điều kiện là: Có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng; các khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng phải đƣợc biểu hiện ở một trong sáu dạng tật và khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng là nguyên nhân khiến ngƣời đó gặp khó khăn khi tham gia lao động, sinh hoạt, học tập. Dạng khuyết tật đƣợc hiểu là những biểu hiện thực thể bên ngoài của ngƣời khuyết tật và là căn cứ để xếp loại các nhóm khuyết tật.
Theo Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ thì có 6 dạng nhƣ sau: (i) Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển; (ii) Khuyết tật nghe nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói; (iii) Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trƣờng bình thƣờng; (iv) Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thƣờng. (v) Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nhận thức, tƣ duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tƣợng, giải quyết sự việc. 18 (vi) Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các dạng khuyết tật trên. Mức độ khuyết tật đƣợc hiểu là các tiêu chí hay căn cứ để xác định và xếp loại mức độ khuyết tật của ngƣời khuyết tật theo mức độ khó khăn trong lao động, học tập và sinh hoạt của ngƣời khuyết tật.
Theo quy định hiện nay (Khoản 2 Điều 3, Luật Ngƣời khuyết tật), thì mức độ khuyết tật đƣợc chia làm 3 mức độ nhƣ sau: - Khuyết tật đặc biệt nặng: mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện đƣợc các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có ngƣời theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. - Khuyết tật nặng: mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện đƣợc một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có ngƣời theo dõi trợ giúp, chăm sóc. - Khuyết tật nhẹ: khuyết tật nhƣng vẫn thực hiện các chức năng và hoạt động bình thƣờng. Khái niệm về Trẻ em, Trẻ em khuyết tật Khái niệm Trẻ em: Trên thế giới và Việt Nam, khái niệm Trẻ em đang đƣợc hiểu không đồng nhất về độ tuổi, cụ thể: Theo Công ƣớc Quyền trẻ em tại Điều 1 quy định:“ Trong phạm vi Công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định dƣới tuổi thành niên sớm hơn”.