Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu; - Chương 2. Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản; - Chương 3. Thực trạng địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam và thực tiễn thi hành.
Hoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nƣớc ngoài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận án a. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản Phá sản (Bankrupt) là chủ đề nghiên cứu phổ biến của học giới các ngành kinh tế, tài chính DN, ngân hàng và pháp lý trên thế giới.
Các nghiên cứu có sự đa dạng cấp độ và góc độ tiếp cận đã góp phần làm rõ một cách sinh động và đầy đủ vấn đề phá sản. Nghiên cứu lý luận về phá sản vì thế có thể coi là đã phủ lên hầu hết các vấn đề thuộc về ―tình trạng quẫn bách của DN‖ cần phải nghiên cứu. Chính vì thế, kết quả này cùng với tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản trong nước trở thành những nền tảng lý luận vững chắc, được thừa nhận đã cơ bản toàn vẹn và có rất ít khoảng trống để nghiên cứu thêm. Các nghiên cứu về phá sản bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phương pháp lịch sử; phương pháp quan sát khoa học; phương pháp phân tích – tổng hợp và phương pháp so sánh luật học đều đã làm rõ được các vấn đề lý luận quan trọng sau: - Thừa nhận phá sản là một tình trạng tồi tệ của của một chủ thể sản xuất hoặc kinh doanh (bao gồm cả tổ chức và cá nhân) khi lâm vào trạng thái không thể trả được các khoản chi phí khi tới hạn.
- Xem xét và phân tích các dấu hiệu của tình trạng phá sản gồm: khả năng thanh toán các khoản phải chi trả cho hoạt động chi thường xuyên và nợ tới hạn không còn; tài sản hiện hữu thấp hơn dư nợ; tình trạng sản xuất, kinh doanh đình trệ không sinh lợi nhuận cao hơn hoặc bằng số chi phí và nợ phải trả trong một kỳ và tình trạng chán nản, tâm lý bỏ mặc của người sở hữu cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Xác lập quan điểm cho rằng phá sản là một hoạt động rút lui trong trật tự của chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh. Và để đảm bảo sự trật tự đó, hoạt động phá sản phải được ghi nhận và bảo đảm bởi nhà nước. Như vậy, các nghiên cứu đều đồng quy rằng, thủ tục phá sản được đảm bảo đó là một cuộc đòi nợ chung nhân văn.
Ba nội dung đã được các nghiên cứu đề cập này dù được chỉ rõ ở các nghiên cứu hiện đại hay rất lâu trong quá khứ đều bao trùm được các vấn đề lý luận mang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính nhận diện vấn đề phá sản và được thừa nhận, sử dụng cho đến ngày nay. Các nghiên cứu tiêu biểu cho nội dung này có thể kể tới như: tác giả Jon P. Nelson (1999) với nghiên cứu ―Consumer Bankruptcy And Chapter Choice: State Panel Evidence‖ (tạm dịch: Phá sản của người tiêu dùng và vấn đề lựa chọn: bằng chứng từ hội đồng cấp bang); nhóm tác giả Wang, Hung-Jen & White, Michelle J (2000) với nghiên cứu ―An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and Proposed Reforms‖ (tạm dịch: Một thủ tục phá sản cá nhân ưu việt và những ý tưởng được đề xuất); tác giả Couwenberg, Oscar (2001) với nghiên cứu ―Survival rates in bankruptcy systems: overlooking the evidence” (tạm dịch: Tỷ lệ phục hồi của các thủ tục phá sản: xem xét các bằng chứng); nhóm tác giả Julian Franks & Oren Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress and Bank Restructuring of Small to Medium Size UK Companies" (tạm dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc ngân hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh); nhóm tác giả Stijn Claessens & Leora F. Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy around the World: Explanations of Its Relative Use" (tạm dịch: Vấn đề phá sản trên thế giới: Giải thích mang tính tương đối); các tác giả Couwenberg, O.
Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV Nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV với từ dùng chính xác là tình trạng pháp lý (Legal status) của QTV (Liquidator) đã được nhiều nghiên cứu nước ngoài đề cập. Các nghiên cứu này chủ yếu được triển khai tại các quốc gia Phương Tây (Châu Âu và Mỹ) – đây cũng chính là khu vực có nền kinh tế thương mại thịnh vượng nhất thế giới cho đến ngày nay. Những nội dung đã được đề cập trong phần nghiên cứu các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV ở phạm vi này bao gồm: Thứ nhất, nghiên cứu khái niệm địa vị pháp lý của QTV. Đây là nội dung nghiên cứu phổ biến nhất, mang tính đồng nhất nhất và thành công nhất của các công trình nước ngoài ở các cấp độ khác nhau.
Theo đó, các nghiên cứu bằng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp phân tích – tổng hợp đã làm rõ nội hàm khái niệm của địa vị pháp lý; QTV và địa vị pháp lý của QTV. Cụ thể: - Đối với khái niệm địa vị pháp lý, các nghiên cứu sau đây: tác giả David C. ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); nhóm tác giả Bliss, Robert R. & Kaufman, George G (2006) với nghiên cứu "Derivatives and systemic risk: Netting, collateral, and closeout” (tạm dịch: Các công cụ phái sinh và rủi ro hệ thống: mạng lưới, tài sản thế chấp và khóa sổ); nhóm tác giả Ricardo J.
Hammour (1998) với nghiên cứu "The Macroeconomics of Specificity" (tạm dịch: Kinh tế học vĩ mô về tính cụ thể) và tác giả Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation, and the disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt) cho rằng địa vị pháp lý chính là tình trạng ghi nhận của pháp luật về một vấn đề nào đó. Cách tiếp cận này rất rộng, theo đó, địa vị pháp lý sẽ được hiểu như quy định của pháp luật về một thứ gì đó. Đây chính là cách tiếp cận dựa trên bản chất pháp lý của vấn đề. Tiếp cận hẹp hơn, các nghiên cứu của: tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu "Theory ahead of business-cycle measurement" (tạm dịch: Lý thuyết đi trước đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J.
Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); nhóm tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố gắng đầu tư và sự suy thoái vĩ đại)… lại cho rằng địa vị pháp lý là sự ghi nhận của pháp luật về vị trí, vai trò và mối quan hệ của chủ thể nào đó với các chủ thể khác. Cách tiếp cận này đáng giá ở chỗ đã cho thấy được địa vị pháp lý là để phân biệt bản chất pháp lý của một chủ thể này với các chủ thể khác, từ đó vừa nhận diện chủ thể, nhưng đồng thời cũng thiết lập các mối quan hệ pháp lý giữa chủ thể đó với các chủ thể khác liên quan. Cho đến nay, trong kinh tế học và các ngành liên quan đến tài chính, kinh tế, DN vẫn dùng cách tiếp cận thứ nhất này của các học giới. Trong khi đó, dưới góc nhìn của pháp lý, cách tiếp cận thứ hai được thừa nhận rộng rãi hơn.
- Đối với khái niệm QTV, các nghiên cứu xuất phát từ các quốc gia khác nhau sử dụng tên gọi khác nhau cho chế định này. Ví dụ như: quản lý tài sản; nhân viên 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân phối nợ; nhân viên hỗ trợ tài chính hay nhân viên hỗ trợ quản lý tài sản khi phá sản. Kết quả nghiên cứu của các công trình nước ngoài cũng có những cách thức xác lập định nghĩa khác nhau về vấn đề này vì phụ thuộc rất lớn vào quan điểm pháp lý của từng quốc gia. Quan điểm chung nhất được đưa ra cho rằng, QTV là người giúp quản lý tài sản của chủ thể phá sản trong suốt quá trình giải quyết phá sản và được đề cập trong các nghiên cứu của tác giả B.
McPherson (2001) với nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation" (tạm dịch: Luật thanh lý công ty); các tác giả Sabrina Pellerin & John R. Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); các tác giả Marcello Estevão & Tiago Severo (2014) với nghiên cứu "Shocks, financial dependence and efficiency: Evidence from U. and Canadian industries‖ (tạm dịch: Những cú sốc, sự phụ thuộc vào tài chính và hiệu quả: Bằng chứng từ các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ và Canada) và rất nhiều nghiên cứu khác. Tuy nhiên, như đã trình bày, một số nghiên cứu bám sát quan điểm pháp lý của từng quốc gia khác nhau lại đưa ra những luận giải cặn kẽ hơn về khái niệm QTV.
Theo đó, các tác giả như: tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động); các tác giả Sabrina Pellerin & John R. Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); tác giả Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation, and the disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt); tác giả Ben S. Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking: Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình)… cho rằng QTV là một người được uỷ thác pháp lý thay mặt toà án hoặc các thiết chế phân xử trong thủ tục phá sản tiến hành quản lý, thanh lý tài sản của chủ thể phá sản nhằm mục đích chi trả nợ cho tất cả các chủ nợ theo một cách thức luật định. Cách tiếp cận này cho thấy vai trò và mối liên hệ giữa QTV với các chủ thể pháp lý khác.
Cho đến nay, nhiều nghiên cứu thừa nhận khái niệm này.