Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỂ THỦ TỤC PHỤC HÓI HOẠT Đ Ộ N G KINH DOANH 1. Phục hồi hoạt động kinh doanh và vai trò của nó trong thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Bàn chất pháp /v của phục hồi hoạt động kinh doanh. Trong nền kinh tế thị 1rường, dưới sự tác động của các quy luật khách quan, hoạt động kinh doanh ihua lỗ của các doanh nghiệp, hợp tác xã là diều khó tránh khỏi.
Việc kinh doanh thua lỗ của các doanh nghiệp, hợp lác xã có thể xuất phát lừ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể là những nguyên nhàn khách quan như khó khăn với các cơ quan tổ chức có chức năng quản lý kinh doanh; khó khăn về khách hàng hoặc khó khăn về những sự kiện không đoán được. Cũng có khi việc kinh doanh thua lỗ của doanh nghiệp lại xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan, nội lại bcn Irong doanh nghiệp, hợp tác xã như năng lực lãnh đạo yếu kém. không hiệu quả; chính sách thương mại của đoanh nghiệp, hợp lác xã tồi hoặc doanh nghiệp, hợp lác xã có những khó khăn về tài chính.
Chính việc kinh doanh thua lỗ này đã dẫn đến tình trạng một doanh nghiệp, hợp tác xã phải nợ một hoặc nhiều doanh nghiệp khác. Đc báo vệ quyền lợi của các chủ nự, ở mỗi quốc gia, đều có các quy định pháp lý về thủ lục thu nợ cá nhân riêng biệt cho phép các chủ nợ được ycu cầu con cầu con nợ thanh toán các khoản nợ của mình. Nhưng thú tục này lỏ ra hạn chế khi mà vào thời điểm thanh toán, khá năng thanh toán của con nợ khôníỉ đủ đế đám bao chi tra nợ cho tất cá các chủ no'. Chỉ có các chủ no' khơi kiẽn con nơ đầu liên mới ckrơc ihaiìh loán Cík' khoan nợ còn các chủ nợ khởi kiện sau không thu được gì.
Dc đãm báo quyền lựi cho mọi chủ nợ, thủ tục phá Siín được đặt ra đế gi ái quyèì lình trạng này. Thú tục phá sản gồm thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mác nợ và thú lục thanh lý tư pháp doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Kể từ những năm 1970 trở lại đây, luật phá sản không chí nằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ mà còn hướng đến bảo vệ lợi ích của chính con nợ và nghĩ cho cùng, việc bảo vệ quyền lợi của con nợ cũng chính là báo đảm quyền lợi cho các chủ nợ. Vì vậy, pháp luật phá sản hiện nay cúa nhiều quốc gia không nhằm mục đích đưa các doanh nghiệp mất khá nâng thanh toán các khoản nợ dến hạn vào tình trạng phá sản và ngược lại, đã có những biện pháp tích cực giảm Ihicu những thiệt hại tiêu cực cho ban thân các doanh nghiệp mắc nợ, và có mục đích cứu vãn các doanh nghiệp thoái khỏi tình trạng phá sản để tiếp tục duy trì hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
Với mục tiêu này, luật phá sản ở hầu hết các nước như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Rumanie, Nga, Ba Lan, Trung Quốc.và kể cả Việt Nam đcu có quy định về phục hồi doanh nghiệp. Phục hồi, theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đồng Nai năm 1997 được hiểu là khôi phục lạ i cái đã mất đi [7,tr. Cũng theo từ điên này, khôi phục được hiểu là làm cho có lạ i được hay trở lạ i được như trước [7,tr. Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 2 thì phục hồi hay hồi phục đéu được hiểu như nhau là thiết lập lụ i cân bằ/iịỊ về.
Tuy nhiên, cả hai định nghĩa trên chỉ là định nghĩa trong ncôn ngữ phổ thông chứ không phải là định nghĩa trên phương diện pháp lý của khái niệm phục hồi. - 10 - Luật Phá sán của Việt Nam không đưa ra khái niệm phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. Khoa học pháp lý của Việt Nam cũng chưa xây dựng khái niệm khoa học vé phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. Tuy nhiên, theo tác giả Ngô Cường, thì phục hồi là đem lạ i cho con nợ cìaiiịỉ trong tình trụtìỊị khó khán những íỉiềii kiện và cơ hội tiếp tục kinh doanh chứ không phái là thanh toán con nợ đó.tr3] Với cách hicu này, tác giả đồng thời cũng chỉ ra 3 dấu hiệu đặc trưng của việc phục hổi doanh nghiệp mắc nợ: - Dối titợniỊ áp dụììg cua phục hồi là nhữỉĩíị con nợ nằm tro iìịị tình trạniỊ khó khăn về tài chín lì ; - Trong tiến trình phục hồi không có sự thanh lý tài sàn của con nợ ; - Mục dícli của việc phục hối lá nhằm tạo điều kiện cho con nợ cỉưực tiếp íục Ììoạt dộng kinh doanh.
Cũng với mục đích xây dựng khái niệm phục hổi doanh nghiệp, Giáo sư Gérard Cornu,Irường Đại học tổng hợp Monpcillier trong cuốn Từ điển luật học của mình do Nhà xuất bản Association Henri Capitant xuất bản năm 2000 bằng Tiếng Pháp đã định nghĩa rằng: “pliục hồi doaiìh nghiệp mắc nợ trên phươno diện pháp lý là một thủ tục dược mở cho mọi doanh nghiệp của luật tư nằm trong tình trạníỊ ngừtìịỉ ihanlì toán rác khoàn nợ nlìồm cho phép cứu vcĩn doanh nghiệp, duy trì hoạt cỉộni> của doanìì mịlìiệp VY/ việc làm cíin^ như hoàn trả các khoàn nợ'' [18.U-730J Với cách định nơhia như trên, Giáo sư Gérard Cornu đã chí ra 3 đặc tnrng cơ bản cua việc phục hồi doanh nghiệp. Đó là: - Phục hồi doanh nghiệp là một thủ tục luật định; - Dôi tưựiìiỊ áp (lụiìíỉ lủ nlỉữiìi> docuìh níịlìiệp fìi>ừn^ thanh toátì các khoan nợcỉến hạn; - Mục cỉíclì của việc phục hồi là cihi vãn, duy trì hoạt độiỉiị cúa (loanh nỊịhiệp vù hoàn trá các khoàn nợ. Đc có the có được một khái niệm chính xác và khoa học vé phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ, xuất phát từ những nghiên cứu cil a các lác giá trên, chúng tôi cho rằng, phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ có những dấu hiệu pháp lý cơ bẳn sau: Thứ nhất: Phục hồi doanh nghiệp mắc nợ là một thủ tục do Toà án tiến hành. Về dấu hiệu này, hiện nay trong luật phá sản cũng đã quy định, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn thì phái áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vần không có khá năng thanh loán nợ thì doanh nghiệp mới lâm vào tình trạng phá sản.
về bản chất, việc áp dụng các biện pháp tài chính cần thiêì nêu trên cũng là việc phục hồi doanh nghiệp mắc nợ. Chúng tôi đồng ý với quan điểm nêu trcn ràng việc áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết khi doanh nghiệp không thanh toán được các khoan nợ đến hạn cũng là việc phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mác nợ. Song đó là các biện pháp phục hồi đo con nợ tự áp đụng mà không phải là thủ tục phục hồi bắt buộc do toà án áp dụng. Việc phục hồi có thổ là tự phục hồi (hay còn gọi là phục hồi ngoài toà án) và phục hồi bắt buộc (hay còn gọi là phục hồi trong 丁oà án).
Thủ tục phục hồi với tư cách là một chế định trong Luật phá sản do Nhà nước xây dựng và điều đỉnh phái được hiểu trốn phương diện của một thủ lục bắt buộc, tiến triển theo những hước, giai đoạn nhất định mà pháp luật đặt ra. Thứ hai: tìố i tượtiỊỊ áp dụng của việc phục hồi là doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả nàng thanh toán nợ. Mất kha năng ihanh toán nợ được hicu ià ''íìn li trạnii mà một lìịịưừi hoặc một doanh nglìiệp klỉôtỉịỉ cỏn dủ tiền tro ìiíị quỹ dê thaiìh toán cúc khoản nợ bị đòi ” [ 17,tr.67] Mất khá năng thanh toán nợ không đổng nghĩa với việc “ vỡ nự” cúa doanh nghiệp, hợp tác xã. Có những trường hợp tổng giá trị tài sản có cúa doanh nghiệp lớn hơn tổng giá trị nợ của doanh nghiệp nhưng tại một thời điểm nhất định doanh nghiệp không còn đủ liền trong quỹ đê có ihc thanh khoản ngay những khoán nợ đến hạn.
Những khoan nợ này có thể là những khoán nợ mang tính chất kinh doanh hoặc những khoán nợ mang lính chất dân sự. Có irưòng hợp tổng giá trị tài san có thấp hơn lổng giá trị tài sản nợ của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp vần có khả năng thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ (nếu họ được xoá nợ hoặc giảm nợ) [27. Trong trường hợp thứ nhất được coi là doanh nghiệp mcíl khả năng thanh toán nợ. Trường hợp thứ hai không được coi là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ.
Tuy nhiên, không phái mọi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đcu có the dược áp dụng thủ tục phục hồi. Chỉ những doanh nghiệp còn khả năng phục hồi hoặc vì tầm quan trọng của doanh nghiệp Irons lĩnh vực hoạt mới là đối tượng của đối tượng của việc phục hồi. Thứ ba: Phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ là một thủ tục đặc biệt Tính chất đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chồ: 'b Trong SUỐI tiến trình áp dụng thủ tục, đặc biệt ỉà trong thời gian thử thách, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ hoặc đai diện hợp pháp của tloanh nghiệp mác nợ vần được tiếp tục duy trì hoạt động dieu hành doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Hai đặc điểm nêu trên của thủ tục phục hồi bát nguồn từ mục tì ích của việc xây dựng quy định vé phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
Mục đích cư bản của việc quy đinh thủ tục phục hồi là nhằm cứu vớu tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Đây cũng chính là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt với thủ tục thanh lý doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Trong thủ tục thanh lý doanh nghiệp mắc nợ, sau khi có quyết định Ihanh lý doanh nghiệp mắc nợ, cơ quan nhà nước có thẩm quyển sẽ tiến hành phân chia tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ cho các chủ nợ tương ứng với phần quyền tài sản của họ. Vì vậy, doanh nghiệp mắc nợ sẽ chấm dứt tổn tại và chủ đại diện hoặc người đại diện hợp pháp cũng không còn được tiếp tục lãnh đạo doanh nghiệp nữa.
Trong khi dó, đối với thú tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ, nếu như phương án phục hồi được chấp thuận thì sẽ không có sự phân chia tài sán còn lại của doanh nghiệp mác nợ.