Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Phá sản là một hiện tượng hết sức bình thường, tồn tại tất yếu và phổ biến trong nền kinh tế thị trường nơi sự cạnh tranh lẫn nhau luôn tồn tại. Phá sản là một thủ tục tố tụng tư pháp đặc biệt, trong đó không thể không nhắc đến sự hiện diện của những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng này với những vai trò và địa vị pháp lý riêng biệt. Trước hết, có thể hiểu chủ thể tham gia quan hệ giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp là tất cả những người có quyền và nghĩa vụ độc lập khi tham gia vào tố tụng phá sản. Theo quy định tại LPS 2014 , những chủ thể này bao gồm: Chủ nợ; Doanh nghiệp mắc nợ; Tòa án; HNCN; Doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản.
Mỗi chủ thể đều được LPS xác lập cho một vị trí pháp lý khác nhau nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu là cùng phối hợp chặt chẽ để đạt được kết quả cuối cùng là giải quyết ổn thỏa vụ việc phá sản của doanh nghiệp. Khái niệm và phân loại chủ nợ 1. Khái niệm chủ nợ Chủ nợ là một khái niệm chung tồn tại trong quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, khi một đối tượng cho vay thì người đó sẽ là chủ nợ trong quan hệ với người đi vay – là con nợ. Trong hoạt động kinh doanh, khái niệm này có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn, theo đó, chủ nợ có thể là các tổ chức, cá nhân có quyền buộc cá nhân, tổ chức khác thực hiện được những nghĩa vụ để bù trừ cho một khoản tiền hay công việc mà trước đó chủ nợ đã thực hiện thay cho con nợ.
Với cách hiểu này, đối tượng được coi là chủ nợ và nguyên nhân trở thành chủ nợ sẽ đa dạng hơn, mối quan hệ giữa chủ nợ với con nợ cũng phong phú hơn. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LPS 2004 không đưa ra khái niệm về “chủ nợ” mà thực hiện việc định danh bằng cách phân loại các đối tượng chủ nợ. Việc không đưa ra khái niệm cụ thể này dẫn đến tình trạng một số đối tượng có quyền và nghĩa vụ về tài sản có liên quan tham gia vào thủ tục phá sản nhưng lại không thể định danh thành một loại chủ thể nhất định, dẫn đến khó xác định vai trò và đảm bảo quyền lợi của họ trong quá trình GQPS. LPS 2014 đã khắc phục hạn chế này bằng cách đưa ra khái niệm về “chủ nợ” tại khoản 3 Điều 4: “Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm”.
Như vậy, khái niệm chủ nợ đã được xác định bởi quyền yêu cầu doanh nghiệp trả nợ, cách hiểu này đã bao hàm được cả những cá nhân, tổ chức có khoản nợ đối với doanh nghiệp phát sinh trước, trong và cả sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, tránh bỏ sót những chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, sau khi đưa ra khái niệm về “chủ nợ”, LPS 2014 lại lặp lại khái niệm này khi phân loại chủ nợ, điều này là không cần thiết và khiến cho khái niệm chủ nợ trở nên rắc rối, khó hiểu hơn. Mục đích của LPS đó là bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ và chủ nợ thông qua việc giải quyết và tìm ra cách thức thanh toán nợ. Thực tế cho thấy, không phải lúc nào quyền của các chủ nợ cũng được bảo đảm.
Và dẫu có thì cũng chỉ là một phần nhỏ trong số những thiệt hại lớn mà các chủ nợ phải gánh chịu. Với vai trò là người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay là người thành lập nên doanh nghiệp của các chủ nợ, việc đảm bảo quyền lợi của họ sẽ vừa là động lực, vừa là nền tảng để họ có thể mạnh dạn hơn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, ổn định xã hội Theo quy định tại LPS 2014 thì có 3 loại chủ nợ đó là: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. Việc phân 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chia này dựa trên mối tương quan giữa khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm mà doanh nghiệp đã cầm cố, thế chấp cho chủ nợ. Tuy nhiên, không phải cả 3 loại chủ nợ trên đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, mà chỉ chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm mới có quyền nộp đơn Điều 5 LPS 2014.
Về nguyên tắc, mọi chủ nợ đều bình đẳng và đều có quyền lợi nhất định trong vụ việc phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm bị hạn chế bởi chính sự thỏa thuận về việc xử lý giá trị tài sản được bảo đảm, họ luôn có trong tay tài sản cầm cố, thế chấp không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có bị phá sản hay không; nghĩa là quyền lợi của họ được bảo đảm rất lớn [21. Do vậy, pháp luật đã có giới hạn nhất định về quyền của loại chủ nợ này so với các chủ nợ khác. Bên cạnh những loại chủ nợ đã nêu trên, khi đề cập đến các chủ thể tham gia vào thủ tục phá sản không thể không nhắc đến một loại chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt – đó chính là người lao động.
Phần lớn pháp luật phá sản các nước trên thế giới đều quy định cho phép người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp nơi họ làm việc. Theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam thì sau khi nộp đơn, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp được coi là chủ nợ - loại chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt. Sự đặc biệt đó thể hiện ở chỗ: Hàng hóa duy nhất họ đem ra trao đổi là sức lao động và tiền lương – nguồn sống chính của bản thân và gia đình người lao động. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì họ là một trong những đối tượng chịu thiệt hại nặng nề nhất; mất việc làm dẫn đến mất thu nhập và cuộc sống sẽ bấp bênh, ảnh hưởng rất nhiều.
Pháp luật quy định cho người lao động có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản để thể hiện tiếng nói của mình trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp cũng chính là giúp họ tự bảo vệ chính mình khi lợi ích của chính họ bị xâm hại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại chủ nợ Một trong những mục tiêu quan trọng mà pháp luật phá sản hướng đến là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Về nguyên tắc, trong thủ tục phá sản, các chủ nợ đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất của các khoản nợ mà quyền lợi của các chủ nợ cũng khác nhau, từ đó sẽ dẫn đến vai trò của họ cũng khác nhau.
Việc phân loại chủ nợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định vai trò cũng như trách nhiệm của từng loại chủ nợ ở mỗi giai đoạn tố tụng phá sản, từ đó góp phần thúc đẩy việc giải quyết phá sản doanh nghiệp đạt được hiệu quả thiết thực. Để phân loại các chủ nợ, cần dựa vào các tiêu chí nhất định, cụ thể: * Căn cứ vào tương quan giữa giá trị tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ: Đây là tiêu chí mà LPS 2014 đã dùng để phân loại chủ nợ, cơ sở phân loại theo tiêu chí này chính là sự xuất hiện của tài sản bảo đảm của doanh nghiệp cho khoản nợ của mình, theo đó, chủ nợ được phân làm ba loại cơ bản: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. + Chủ nợ có bảo đảm: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 4 LPS 2014 thì “Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba” Đây là loại chủ nợ được bảo đảm về quyền lợi nhiều nhất trong ba loại chủ nợ được LPS 2014 quy định, bởi chủ nợ có bảo đảm luôn được pháp luật bảo vệ quyền lợi bởi chính giá trị tài sản bảo đảm mà doanh nghiệp đem cầm cố, thế chấp; và giá trị tài sản đảm bảo của khoản nợ có đảm bảo là tương đương hoặc lớn hơn so với giá trị khoản nợ của doanh nghiệp. Ví dụ: Ngân hàng A cho công ty cổ phần B vay 4 tỷ đồng và nhận tài sản thế chấp là mảnh đất của công ty được định giá là 5,3 tỷ.
Như vậy, ở đây Ngân hàng A chính là chủ nợ có bảo đảm; bởi quyền lợi của Ngân 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng được đảm bảo bằng chính giá trị mảnh đất tương đương với khoản tiền mà ngân hàng A cho công ty B vay. + Chủ nợ có bảo đảm một phần : Theo quy định tại khoản 6, Điều 4 LPS 2014 thì: “Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó”. Đây cũng có thể được xem là chủ nợ có bảo đảm bởi bản thân chủ nợ này cũng được bảo đảm bằng chính tài sản của doanh nghiệp hoặc bên thứ ba. Tuy nhiên, LPS 2014 đã mang đến cái nhìn cụ thể hóa khi dựa vào sự chênh lệch giữa giá trị tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ của doanh nghiệp trong việc phân nhỏ loại chủ nợ này.
Theo đó, chủ nợ có bảo đảm một phần được đảm bảo về quyền lợi ít hơn so với chủ nợ có bảo đảm; bởi chính giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn so với giá trị khoản nợ của doanh nghiệp.