Tổng quan về luận án
Luận án Tiến sĩ Khảo cổ học với đề tài "Di tích kiến trúc cổ của người Hoa ở Hội An (Quảng Nam)" (Mã số chuyên ngành: 9229017) do nghiên cứu sinh Võ Thị Ánh Tuyết thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Hậu và PGS.TS. Trương Hoàng Trương tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2022). Công trình xác lập một bước tiến mới trong việc tiếp cận di sản đô thị thương cảng cổ từ góc độ Khảo cổ học lịch sử (Historical Archaeology) và Khảo cổ học đô thị (Urban Archaeology).
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được nhận diện: Trước đây, các công trình về đô thị cổ Hội An chủ yếu tiếp cận dưới góc độ lịch sử thương mại (Trần Kinh Hòa, 1961, 1962; Li Tana, 1999), kiến trúc tổng quát đơn lẻ (Kazimierz Kwiatkowski, 1983; Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế ĐH Nữ Chiêu Hòa, 2000), hoặc khảo cứu văn tự Hán Nôm độc lập (Phạm Thúc Hồng, 2008, 2012). Chưa có công trình nào tích hợp liên ngành khảo cổ học để hệ thống hóa toàn diện toàn bộ di tích kiến trúc cổ của người Hoa, phân kỳ lịch sử dựa trên dấu vết vật chất - văn bia - địa tầng, và giải mã cơ chế tiếp biến không gian - văn hóa của cộng đồng Hoa kiều trong tương quan với cư dân bản địa tại một thương cảng quốc tế Đông Á.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được cụ thể hóa:
- RQ1: Cấu trúc không gian, phân loại hình thái và đặc trưng kỹ thuật xây dựng - trang trí của hệ thống di tích kiến trúc cổ người Hoa tại Hội An có diện mạo như thế nào qua các nguồn tư liệu vật chất và văn khắc?
- RQ2: Diễn trình hình thành, biến đổi và trùng tu của hệ thống kiến trúc này trải qua những giai đoạn lịch sử nào gắn liền với sự thăng trầm của thương cảng Faifo từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX?
- RQ3: Các mối quan hệ giao lưu, tiếp biến văn hóa (acculturation) giữa người Hoa với người Việt, người Nhật và các cộng đồng hải ngoại khác được vật chất hóa như thế nào trong kiến trúc dân dụng và tín ngưỡng?
- H1: Di tích kiến trúc người Hoa tại Hội An không phải là sự sao chép nguyên mẫu từ bản quán (Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam, Gia Ứng), mà là sản phẩm của quá trình thích ứng sinh thái - xã hội, tiếp biến bản địa và tái định hình bản sắc tộc người.
- H2: Sự biến đổi công năng và hình thái kiến trúc phản ánh trực tiếp sự chuyển đổi thể chế quản lý từ tự trị bang hội thương mại sang hội nhập hành chính quốc gia - dân tộc dưới thời Nguyễn và thời thuộc Pháp.
Khung lý thuyết vận dụng kết hợp thuyết Khảo cổ học đô thị (Nguyễn Thị Hậu, 2019), thuyết Giao lưu và Tiếp biến văn hóa (R. Linton & M. J. Herskovits, 1936; Trần Quốc Vượng, 2006) và lý thuyết Quá trình tộc người (Vương Xuân Tình, 2017). Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian phố cổ Hội An diện tích 1,6 km² (trong đó Khu vực I bảo vệ nguyên trạng là 0,3 km² cùng các vùng đệm IIA, IIB và vùng phụ cận Cẩm Hà, Tân An, Cù Lao Chàm), với trục thời gian vật chất kéo dài từ cuối thế kỷ XVII đến mốc giới hạn năm 1922 (tròn 100 năm xác định cổ vật/di tích theo Luật Di sản Văn hóa Việt Nam năm 2001). Cơ sở dữ liệu luận án dựa trên 28 bảng thống kê chuyên khảo, 230 tài liệu tham khảo trích dẫn trực tiếp, 32 công trình công bố khoa học của tác giả và hàng trăm bản dập văn bia, hoành phi, liễn đối, minh văn chữ Hán.
Literature Review và Positioning
Tiến trình nghiên cứu về Hội An và di tích người Hoa trong lịch sử học thuật trải qua nhiều giai đoạn với các luồng quan điểm khác nhau:
Luồng nghiên cứu địa chí - thực dân và khảo cứu ban đầu (trước 1975): Khởi đầu từ các ghi chép của bác sĩ Albert Sallet (Le vieux Faifo, 1919) trên tập san BAVH, tiếp nối bởi công trình địa lý nhân văn của Nguyễn Thiệu Lâu (La Formation et L'Evolution du village de Minh Huong, 1941) và các nghiên cứu sử liệu mẫu mực của Trần Kinh Hòa (Chen Ching Ho, 1960, 1962, 1974) về Minh Hương xã, phố Khách và thương quán. Các tác giả này tập trung khai thác văn bản giấy tờ, gia phả để định vị sự hình thành các làng xã người Hoa, nhưng chưa đi sâu khảo sát cấu trúc vật chất kiến trúc từ nhãn quan khảo cổ học.
Luồng nghiên cứu quốc tế hóa và khảo sát kiến trúc (1980 - 2000): Đánh dấu bằng sự xuất hiện của chuyên gia Ba Lan Kazimierz Kwiatkowski (Kazik) năm 1982 trong việc thống kê lập bản đồ bảo tồn, tiếp đến là Hội thảo Quốc gia (1985) và Hội thảo Quốc tế (1990) tại Đà Nẵng. Các chương trình hợp tác với Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế - Đại học Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) do các giáo sư Tomoda, Fukukawa, Sakurai, Masuda thực hiện (1992 - 2000) đã công bố công trình đồ sộ Kiến trúc phố cổ Hội An - Việt Nam. Luồng này chú trọng trắc đạc kỹ thuật gỗ, phân tích hư hại kết cấu nhà phố nhằm phục vụ tu bổ cấp thiết, song chưa đặt hệ thống di tích kiến trúc người Hoa vào bức tranh toàn cục về khảo cổ học lịch sử và nhân học tộc người.
Các tranh luận học thuật (scholarly debates) nổi bật:
- Tranh luận 1 (Về tính thuần nhất vs. tính hỗn dung của kiến trúc nhà phố): Nhóm nghiên cứu kiến trúc truyền thống có xu hướng phân lập rạch ròi "nhà kiểu Việt", "nhà kiểu Nhật", "nhà kiểu Hoa". Ngược lại, luận án chứng minh thông qua giải phẫu học công trình rằng kiến trúc dân dụng Hội An là cấu trúc hỗn dung linh hoạt (hybridity): bộ vì nóc kiểu "chồng rường giả thủ" hoặc "cột trốn kẻ chuyền" Việt kết hợp giếng trời (thiên tỉnh), vách lụa, hoành phi và hệ thống "mắt cửa" mang đậm tư duy phong thủy Hoa kiều.
- Tranh luận 2 (Về vị thế xã Minh Hương và người Hoa Ngũ Bang): Một số ý kiến đồng nhất di sản người Hoa với di sản làng Minh Hương. Luận án chỉ rõ sự phân định pháp lý - xã hội giữa nhóm "Minh Hương" (nhập tịch bản địa, con lai hình thành tổ chức làng xã riêng) và nhóm "Hoa kiều Ngũ Bang/Khách trú" (giữ quốc tịch Thanh, tổ chức theo bang hội Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Quỳnh Phủ, Gia Ứng xoay quanh Dương Thương hội quán).
So sánh đối sánh quốc tế: Định vị kiến trúc người Hoa Hội An trong hệ thống thương cảng Đông Nam Á và Đông Á cho thấy:
- So với Malacca và George Town (Penang, Malaysia): Kiến trúc shophouse (nhà phố thương mại) của cộng đồng Peranakan/Straits Chinese tại Malaysia chịu ảnh hưởng sâu sắc từ kiến trúc thuộc địa Anh (Anglo-Chinese) với mặt tiền ốp gạch gốm phương Tây (majolica tiles) và vòm cuốn Palladian. Trong khi đó, nhà phố thương nhân Hoa tại Hội An giữ nguyên cấu trúc khung gỗ truyền thống Á Đông, thích nghi trực tiếp với khí hậu nhiệt đới gió mùa và chế độ lũ lụt của lưu vực sông Thu Bồn thông qua sàn gác lửng có ròng rọc vận chuyển hàng hóa.
- So với khu phố người Hoa tại Nagasaki (Shinchi Chinatown, Nhật Bản): Tại Nagasaki dưới thời Mạc phủ Tokugawa, thương nhân nhà Thanh bị cô lập trong khu cư trú biệt lập Tojin Yashiki (Đường nhân ốc phu). Ngược lại, tại Hội An dưới quyền cai trị cởi mở của các chúa Nguyễn, người Hoa được định cư xen cài, tự do kiến tạo các hội quán quy mô lớn ngay trên các trục lộ giao thương chính ven sông (đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và làm sâu sắc ba lý thuyết nền tảng trong khoa học xã hội và nhân văn:
- Mở rộng lý thuyết Khảo cổ học đô thị trong bối cảnh thương cảng truyền thống châu Á: Phát triển quan điểm của Nguyễn Thị Hậu (2019), khảo cổ học đô thị không chỉ khai quật địa tầng dưới lòng đất mà bao gồm việc "đọc" các cấu kiện kiến trúc trên mặt đất như những địa tầng văn hóa vật chất lộ thiên. Luận án bổ sung mô hình phân tích chuỗi chuyển hóa công năng (functional transformation sequence) của các công trình công cộng và dân dụng trong đô thị lịch sử.
- Phát triển lý thuyết Giao lưu và Tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory): Dựa trên định nghĩa kinh điển của R. Linton và M. J. Herskovits (1936) được GS. Trần Quốc Vượng (2006) vận dụng:
"Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm."
Luận án chứng minh tiếp biến văn hóa tại Hội An không diễn ra một chiều (assimilation) mà theo cơ chế thích ứng tích hợp (integration) và tái sáng tạo biểu tượng (symbolic re-creation). Các vị thần bản địa hoặc du nhập (Thiên Hậu, Quan Công, Bắc Đế, Sanh Thai tam vị thánh nương) được thờ tự chung trong không gian kiến trúc có sự giao thoa giữa nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt - Hoa.
- Đóng góp cho lý thuyết Quá trình tộc người (Ethnic Process Theory): Cụ thể hóa luận điểm của Vương Xuân Tình (2017) và Phan Hữu Dật (1998), luận án cung cấp bằng chứng vật chất về sự chuyển hóa từ "ý thức đồng hương bản quán" (gắn với từng bang hội địa phương Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Triệu...) sang "ý thức cộng đồng Hoa kiều thống nhất" thông qua sự ra đời của Dương Thương hội quán (Hội quán Trung Hoa) và Thanh Minh từ của Ngũ Bang.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành theo mô hình ba trục tương tác: Vật chất Kiến trúc (Materiality) – Thiết chế Xã hội (Social Institution) – Cảnh quan Đô thị Thương cảng (Port-city Landscape):
+-------------------------------------------------------------+
| CẢNH QUAN ĐÔ THỊ THƯƠNG CẢNG |
| (Hệ sinh thái sông Thu Bồn - Cửa Đại - Biển Đông) |
+------------------------------+------------------------------+
|
v
+------------------------------+------------------------------+
| THIẾT CHẾ XÃ HỘI VÀ TỘC NGƯỜI |
| (Ngũ Bang Hoa kiều - Xã Minh Hương - Chính quyền bản địa) |
+------------------------------+------------------------------+
|
v
+------------------------------+------------------------------+
| VẬT CHẤT VÀ HÌNH THÁI KIẾN TRÚC |
| - Kiến trúc dân dụng: Nhà ở shophouse, nhà thờ tộc |
| - Kiến trúc tín ngưỡng: Miếu Quan Thánh, Hội quán, Nghĩa |
| trũng, Thanh Minh từ |
| - Kỹ thuật: Khung gỗ, vì kèo, ngói âm dương, điêu khắc đá |
+-------------------------------------------------------------+
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích:
- Không gian: Giới hạn trong vùng sinh thái nhân văn thương cảng Hội An và các vùng phụ cận liên kết hữu cơ.
- Thời gian: Áp dụng hiệu quả cho các di tích có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX (trước thời kỳ hiện đại hóa bê tông cốt thép).
- Chủ thể: Tập trung vào cộng đồng người Hoa thuần thành (Ngũ Bang) và các nhóm Minh Hương giai đoạn đầu chưa đồng hóa hoàn toàn.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, kết hợp lập trường thực chứng luận phản tư (critical realism) và diễn giải học văn hóa (cultural hermeneutics). Thiết kế nghiên cứu đa tầng bậc (multi-level research design):
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích mạng lưới đô thị - thương cảng quốc tế Đông Á, chính sách ngoại thương của chính quyền chúa Nguyễn và triều Nguyễn qua Châu bản và chính sử.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Phân tích cấu trúc không gian phân bố di tích theo các tuyến phố chính (Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng, Lê Lợi, Trần Quý Cáp) và mối quan hệ bang hội.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Khảo sát chi tiết từng công trình đơn lẻ: trắc đạc hình học, giải phẫu cấu kết bộ vì gỗ, giám định vật liệu ngói - gạch - đá, dập văn bia và giải mã minh văn Hán Nôm.
Tiêu chí lựa chọn mẫu khảo sát (selection criteria): Khảo sát toàn diện 100% các di tích kiến trúc tín ngưỡng của người Hoa còn hiện diện tại Hội An (5 Hội quán Ngũ Bang, Miếu Quan Thánh, Chùa Quan Âm, Thanh Minh từ, Nghĩa trũng Ngũ Bang, Cẩm Hải nhị cung, Chùa Cầu) và chọn mẫu đại diện điển hình đối với nhóm kiến trúc nhà ở kết hợp cửa hiệu (như nhà Quân Thắng số 77 Trần Phú, nhà số 75 Trần Phú, nhà Triều Phát, nhà Chấn Long Đường, nhà số 33 Nguyễn Thái Học, nhà thờ tộc Lâm...).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu thực hiện qua bốn bước chuẩn hóa:
- Điều tra, điền dã thực địa và trắc đạc: Đo vẽ mặt bằng tổng thể, mặt đứng, mặt cắt kiến trúc; khảo tả chi tiết hiện trạng hư hại và các lần can thiệp tu bổ.
- Sưu tầm và xử lý văn khắc Hán Nôm: Tiến hành dập bản hoa văn, dập văn bia (rubbing technique), phiên âm, dịch nghĩa và đối chiếu lịch sử toàn bộ hệ thống bi ký (như bi ký Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ, bia Trùng tu Quan Thánh miếu 1753/1783, bia Phúc Kiến hội quán Càn Long Đinh Sửu bi 1757, bia Lữ Việt Hội An Quỳnh Phủ hội quán trùng tu bi chí, văn tự xà cò ghi niên đại).
- Phân tích tư liệu thám sát, khai quật khảo cổ học: Kế thừa và tổng hợp kết quả các hố khai quật khảo cổ học đô thị từ năm 1989 đến 2022 tại các vị trí: 16 Nguyễn Thị Minh Khai, 76/18 Trần Phú, Trường Trần Quý Cáp, di tích Chùa Cầu, Hậu Xá, Thanh Chiêm... nhằm đối sánh tầng văn hóa Sa Huỳnh - Champa - Đại Việt - Đại Thanh.
- Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa 4 nguồn tư liệu độc lập: (1) Di tích vật chất hiện còn; (2) Tư liệu văn tự Hán Nôm khắc trên gỗ/đá/chuông đồng; (3) Châu bản triều Nguyễn, thư tịch cổ (Đại Nam thực lục, Phủ biên tạp lục, ghi chép phương Tây của Thích Đại Sán, Pierre Poivre); (4) Tư liệu điều tra nhân học/dân tộc học qua phỏng vấn sâu các bang trưởng, người cao tuổi trong cộng đồng Hoa kiều.
Data và phân tích
Ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu hiện đại:
- Xử lý bản đồ và không ảnh viễn thám: Sử dụng Google Earth Pro, GIS và hệ thống tọa độ VN-2000 để lập bản đồ phân bố mật độ di tích.
- Đồ họa kỹ thuật kiến trúc: Ứng dụng phần mềm AutoCAD 2021 để số hóa các bản vẽ mặt đứng, mặt cắt bộ vì; sử dụng Adobe Photoshop và CorelDRAW 2021 để phục dựng hoa văn trang trí và ma trận ma-két văn bia.
- Phân tích thống kê: 28 bảng thống kê chuyên ngành phân loại chi tiết các biến số: số lượng ghe thuyền buôn bán (1647 - 1720), số lượng văn khế mua bán/điển chấp nhà đất, danh sách các cửa hiệu người Hoa đóng góp tiền trùng tu qua từng niên kỳ lịch sử.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Xác lập hệ thống phân loại khoa học chuẩn xác về di tích kiến trúc người Hoa: Phân định thành 3 nhóm rõ rệt dựa trên công năng gốc và công năng chuyển hóa: (1) Nhóm kiến trúc dân dụng (Nhà ở kết hợp cửa hiệu dạng shophouse; Nhà thờ tộc); (2) Nhóm kiến trúc tín ngưỡng (Miếu Quan Thánh, Chùa Quan Âm, 5 Hội quán Ngũ Bang, Mộ cổ - Nghĩa trũng, Thanh Minh từ); (3) Nhóm kiến trúc ghi nhận dấu ấn đóng góp (Lai Viễn Kiều/Chùa Cầu & Bắc Đế miếu, Cẩm Hải nhị cung tại chùa Bà Mụ).
-
Phân kỳ diễn trình phát triển 4 giai đoạn lịch sử gắn với di tích vật chất:
- Giai đoạn 1 (Thế kỷ XVII): Giai đoạn manh nha định cư và xác lập các cơ sở tín ngưỡng sớm (Dấu vết miếu Quan Thánh làng Trà Nhiêu, Cẩm Hải cung làng Thanh Hà có trước 1653).
- Giai đoạn 2 (Thế kỷ XVIII đến năm 1775): Thời kỳ hưng thịnh tột bậc của thương cảng Faifo; hình thành hệ thống hội quán quy mô lớn (Hội quán Phúc Kiến xây dựng kiên cố năm 1757, văn bia trùng tu miếu Quan Thánh năm 1753).
- Giai đoạn 3 (1775 - 1802): Giai đoạn chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, đô thị bị tàn phá nặng nề; các di tích bị hư hại và bước đầu được cộng đồng người Hoa tái thiết, phục hồi sau năm 1783.
- Giai đoạn 4 (1802 đến 1922): Tái cấu trúc dưới thời Nguyễn và thời thuộc Pháp; mở rộng và trùng tu quy mô lớn toàn bộ 5 hội quán, bổ sung các mảng chạm khắc đá nhập khẩu từ Quảng Đông/Phúc Kiến và hợp thức hóa kiến trúc nhà phố thương mại.
-
Phát hiện về quy luật tiếp biến và hỗn dung nghệ thuật kiến trúc (Counter-intuitive Finding): Trái với định kiến cho rằng hội quán Hoa tại Hội An hoàn toàn thuần túy phong cách Nam Trung Hoa, luận án chỉ ra sự can thiệp tinh xảo của thợ mộc tài hoa làng Kim Bồng (Hội An) trong kết cấu khung gỗ. Các nghệ nhân Việt đã kết hợp thủ pháp "chồng rường" Trung Hoa với kỹ thuật chạm lộng, chạm nổi mô típ hoa cúc, dây lá hóa rồng, chim phượng mang đậm phong cách mỹ thuật thời Nguyễn, tạo nên một trường phái nghệ thuật kiến trúc hỗn dung độc nhất vô nhị.
-
Giải mã chức năng kép và sự chuyển dịch biểu tượng xã hội: Hội quán người Hoa không đơn thuần là không gian tôn giáo (temple) mà giữ vai trò "Tòa thị chính thu nhỏ" (Assembly Hall / Civic Center) của từng bang phương ngữ: nơi điều hành kinh tế, phân xử tranh chấp thương mại, cứu tế xã hội, bảo tồn tiếng mẹ đẻ và quản lý nghĩa trang cộng đồng. Thư tịch cổ đã xác nhận thực tế hôn nhân và sinh hoạt:
"Những khách trú ở đây hay cưới vợ bản xứ cho tiện cho việc thương mãi" (Thích Đại Sán, Hải Ngoại Kỷ Sự, 1695; bản dịch 2016).
Hiện tượng này giải thích lý do vì sao không gian nhà ở của người Hoa có sự phân chia linh hoạt: tầng trệt là cửa hiệu giao thương công cộng theo tập quán người Hoa, nhưng gian bếp và khu vực sinh hoạt gia đình phía sau lại mang đậm nét văn hóa nữ quyền bản địa của phụ nữ xứ Quảng.
- Chứng cứ văn bản học về sự bảo hộ và quản lý của nhà nước phong kiến Việt Nam: Trích xuất từ Châu bản triều Nguyễn cho thấy các vị vua như Minh Mạng khi tuần du đến Hội An đã trực tiếp ban thưởng ngân bạc cho miếu Quan Thánh và miếu Thiên Hậu, thể hiện chính sách dung hợp tôn giáo và kiểm soát mềm đối với cộng đồng Hoa thương.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Cung cấp mô hình mẫu cho việc nghiên cứu khảo cổ học lịch sử các cộng đồng di dân (diaspora communities) tại các đô thị cảng Đông Nam Á.
- Về mặt phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình liên ngành kết hợp giữa giám định khảo cổ học kiến trúc, khảo cứu văn khắc Hán Nôm và phân tích không gian nhân học đô thị.
- Về mặt ứng dụng thực tiễn: Cung cấp bộ hồ sơ khoa học chi tiết gồm bản vẽ kỹ thuật, danh mục hiện vật, bản dịch văn bia phục vụ trực tiếp cho Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An trong công tác lập dự án trùng tu khoa học, hạn chế tối đa tình trạng "làm mới di tích" hoặc làm sai lệch yếu tố gốc.
- Về mặt chính sách quản lý di sản: Đề xuất phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt đối với không gian nội thất và hệ thống giếng trời nhà cổ; xây dựng quy chuẩn vật liệu thay thế truyền thống (gỗ kiền kiền, ngói âm dương nung thủ công, vôi hàu giã vỏ sò trộn mật mía) trong quy chế bảo tồn đô thị di sản thế giới.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn nhìn nhận 4 giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về thám sát khảo cổ học dưới lòng đất: Do Hội An là đô thị di sản sống (living heritage), mật độ dân cư và hoạt động kinh doanh du lịch dày đặc nên việc mở các hố khai quật khảo cổ học địa tầng quy mô lớn bên trong khuôn viên các hội quán và nhà cổ tư nhân còn bị hạn chế.
- Độ khuyết thiếu của tư liệu văn khắc giai đoạn sớm: Các văn bia thế kỷ XVII hầu như bị thất lạc do biến cố hỏa hoạn và chiến tranh giai đoạn 1775 - 1802; nhận định về giai đoạn này chủ yếu dựa trên nguồn sử liệu thành văn gián tiếp và địa bạ cổ.
- Giới hạn phân tích định lượng niên đại mẫu gỗ: Chưa áp dụng phương pháp đo vòng năm tuổi gỗ (dendrochronology) hoặc định tuổi đồng vị phóng xạ Carbon-14 ($^{14}\text{C}$) đối với toàn bộ các cấu kiện vì kèo do yêu cầu bảo tồn nguyên trạng không được phép lấy mẫu phá hủy.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối trong 5 - 10 năm tới:
- Hướng 1: Triển khai công nghệ quét 3D Laser Scanning và mô hình hóa thông tin công trình di sản (HBIM - Heritage Building Information Modeling) toàn diện cho tất cả các hội quán và nhà cổ tiêu biểu.
- Hướng 2: Mở rộng nghiên cứu Khảo cổ học biến đảo (Maritime Archaeology) tại khu vực Cù Lao Chàm và cửa biển Đại Chiêm nhằm liên kết chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng và hàng hóa gốm sứ mậu dịch xuyên biển.
- Hướng 3: Khảo sát đối sánh thực địa tại các làng quê gốc ở Phúc Kiến (Tuyền Châu, Chương Châu) và Quảng Đông (Triều Châu, Phật Sơn) để truy tìm xưởng thợ và nghệ nhân đã chế tác các cấu kiện đá được chuyển chở về lắp ghép tại Hội An.
- Hướng 4: Nghiên cứu xã hội học di sản về sự chuyển đổi chủ sở hữu các nhà cổ của người Hoa từ sở hữu tư nhân truyền thống sang doanh nghiệp thương mại hóa du lịch trong bối cảnh đương đại.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật (Academic Impact): Dự báo trở thành công trình quy chuẩn (benchmark reference) được trích dẫn thường xuyên trong các nghiên cứu về khảo cổ học đô thị Việt Nam, lịch sử di dân Hoa kiều Đông Nam Á và bảo tồn kiến trúc gỗ truyền thống.
- Chuyển đổi công tác quản lý di sản: Đóng góp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu số hóa di sản của tỉnh Quảng Nam; làm tài liệu nền tảng cho việc lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt cho các công trình đơn lẻ và bảo vệ toàn vẹn vùng lõi Di sản Văn hóa Thế giới UNESCO Hội An.
- Tác động kinh tế - du lịch bền vững: Cung cấp nội dung học thuật chuẩn xác cho thuyết minh du lịch văn hóa chất lượng cao, giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch di sản, chuyển từ tham quan đại trà sang du lịch trải nghiệm chiều sâu lịch sử - kiến trúc.
- Giá trị xã hội và ngoại giao văn hóa: Tôn vinh đóng góp lịch sử của cộng đồng người Hoa trong khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam; củng cố mối quan hệ giao lưu văn hóa quốc tế giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Khảo cổ học, Lịch sử, Văn hóa học, Kiến trúc, Bảo tàng học tiếp cận nguồn tư liệu thực chứng chuẩn xác và khung lý thuyết liên ngành hiện đại.
- Các nhà nghiên cứu cấp cao (Senior Academics): Kế thừa dữ liệu văn bia đã được dịch giải và hệ thống bản vẽ chi tiết để mở rộng các nghiên cứu so sánh khu vực học.
- Cơ quan quản lý nhà nước và chuyên môn: Cục Di sản Văn hóa, Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Quảng Nam, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An có căn cứ khoa học vững chắc để phê duyệt các dự án tu bổ, chống xuống cấp di tích.
- Cộng đồng cư dân phố cổ và đại diện các Bang Hoa kiều: Nhận thức sâu sắc hơn về giá trị di sản của dòng tộc, nâng cao ý thức tự giác gìn giữ tính nguyên gốc của công trình kiến trúc.
- Doanh nghiệp lữ hành và du khách: Thụ hưởng các sản phẩm du lịch văn hóa có hàm lượng tri thức cao, chuẩn xác về mặt lịch sử.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng lý thuyết Khảo cổ học đô thị (Urban Archaeology) bằng cách xác lập phương pháp "đọc địa tầng kiến trúc nổi" trên mặt đất. Đồng thời, đóng góp mới cho lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation) khi chứng minh mô hình "hỗn dung kiến trúc thích ứng": kiến trúc người Hoa tại Hội An không bảo lưu thụ động mô thức cố thổ mà tiếp nhận kỹ thuật khung gỗ truyền thống Việt và giải pháp không gian thông gió, thoát lũ nhiệt đới bản địa.
2. Đột phá phương pháp luận của luận án khi so sánh với các công trình trước đây?
Trả lời: So với các nghiên cứu thuần túy sử học của Trần Kinh Hòa (chủ yếu dựa trên thư tịch) hay nghiên cứu thuần túy kiến trúc của ĐH Nữ Chiêu Hòa (thiên về trắc đạc kỹ thuật), luận án thực hiện phương pháp tam giác đạc khảo cổ học liên ngành: tích hợp đồng thời trắc đạc hình học kiến trúc, khảo chứng văn bia Hán Nôm dập tại chỗ, đối chiếu địa tầng thám sát khảo cổ học và kiểm chứng qua Châu bản triều Nguyễn.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực địa là gì?
Trả lời: Phát hiện về sự tương thích kỳ diệu giữa kết cấu chịu lực của kiến trúc gỗ Kim Bồng với hệ thống tường hoa gạch thẻ và điêu khắc đá Phúc Kiến. Dữ liệu văn khắc xà cò chứng minh các đợt trùng tu lớn không làm triệt tiêu cấu kiện cũ mà áp dụng kỹ thuật "chắp vá tương dung", bảo lưu dấu vết niên đại của các thế kỷ trước lồng ghép bên trong cấu trúc mới thế kỷ XIX.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Trả lời: Có. Luận án xây dựng quy trình 4 bước chuẩn hóa từ thu thập tọa độ, phương pháp dập văn bia, hệ thống tiêu chí phân loại kiến trúc đến quy chuẩn số hóa bản vẽ CAD/CorelDRAW, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng hoàn toàn quy trình này để khảo sát hệ thống di tích người Hoa tại các đô thị cổ khác như Phố Hiến (Hưng Yên), Chợ Lớn (TP.HCM) hay Nước Mặn (Bình Định).
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Trả lời: Tập trung vào 3 trụ cột: (1) Ứng dụng công nghệ HBIM và scan laser 3D bảo tồn số; (2) Mở rộng khảo cổ học liên kết chuỗi cảng thị biển đảo Đông Á; (3) Khảo sát đối sánh nguồn gốc vật liệu và xưởng thợ tại hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông (Trung Quốc).
Kết luận
Luận án Tiến sĩ của tác giả Võ Thị Ánh Tuyết đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp cốt lõi:
- Hệ thống hóa và phân loại toàn diện, khoa học toàn bộ hệ thống di tích kiến trúc cổ của người Hoa tại Hội An thành 3 nhóm chức năng rõ rệt với cơ sở dữ liệu gồm 28 bảng thống kê chi tiết.
- Phân kỳ thành công diễn trình phát triển 4 giai đoạn lịch sử của di tích gắn chặt với sự hưng suy của thương cảng quốc tế Faifo từ thế kỷ XVII đến năm 1922.
- Giải mã bản chất tiếp biến và hỗn dung văn hóa Việt - Hoa được vật chất hóa qua kỹ thuật xây dựng khung gỗ, nghệ thuật chạm khắc và bố cục không gian chức năng thích ứng môi trường sinh thái sông biển.
- Xử lý và công bố khối tư liệu văn khắc chữ Hán đồ sộ (văn bia, xà cò, hoành phi, liễn đối), tạo nguồn sử liệu thực chứng vô giá cho khảo cổ học lịch sử Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn thích ứng (adaptive conservation) có giá trị thực tiễn cao, phục vụ chiến lược phát triển bền vững Đô thị Di sản Thế giới Hội An.
Công trình xác lập một chuẩn mực học thuật mới trong nghiên cứu khảo cổ học đô thị, mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành rộng mở về lịch sử di dân, kinh tế biển và bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế.