Chương 1: Nêu khái quát sự cần thiết của dé tài, tóm tắt nội dung, phạm vi nghiên cứu. ® Chương 2: Trinh bày những cơ sở lý luận liên quan đến vấn dé nghiên cứu và sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp phỏng vấn diéu tra để thu thập số liệu. ® Chương 3: Trình bày khái quát về diéu kiện tự, điểu kiện kinh tế và xã hội đang tổn tại trên địa bàn xã từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn mà xã đang phải đối mặt. ® Chương 4: Trình bày nội dung nghiên cứu của dé tài.
Đánh giá, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nội dung bên trong của để tài, tìm ra những thuận lợi và khó khăn của dé tài, từ đó đưa ra một số dé xuất nhằm hỗ trợ cho nông hộ san xuất cà phê trên địa bàn xã. ® Chương 5: Nhận xét, kết luận và đưa ra một số kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Nguồn gốc và vai trò của cây cà phê.
Nguồn gốc: Cà phê đầu tiên được đưa vào trồng ở Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điển của người pháp.000ha cho san lượng 6000 tấn, cho đến nay có khoảng 503.200ha dat san lượng gần 834. Vai trò của cây cà phê: Cây cà phê là một cây công nghiệp quan trọng, sản phẩm của nó là một loại thức uống không thể thiếu của nhiều dân tộc. Nói chung san suất cà phê là một nghành sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm có giá trị cao trong lĩnh vực tiêu dùng và xuất khẩu. Trong nhiều thập niên và hiện nay, cà phê là loại hàng hoá quan trọng mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho một số nước trên Thế giới.
Ở Việt Nam đa số trồng loại cà phê vối, mà chủ yếu là giống cà phê Robusta, cà phê vối là cây công nghiệp dài ngày. Hiện được coi là cây trồng thuộc chương trình phủ xanh đất trống đổi núi trọc với ý nghĩa ba mặt. + Về mặt kinh tế: So với nhiều loại cây trồng khác trên vùng đất đồi, đất đỏ bazan như ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ thì cây cà phê vẫn là cây mang lại giá trị kinh tế cao. + Về mặt xã hội: Trồng cà phê là một trong những giải pháp tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động ở Miễn Núi, Tây Nguyên hiện đang thiếu công ăn việc làm, giúp người dân nâng cao thu nhập, là cách xoá đói giảm nghèo có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
+ Về mặt xã hội: Trồng cà phê góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần quan trọng trong việc cải tạo môi trường sinh thái. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của kinh tế nông hộ. + Khái niêm: Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và chung một ngân qũy. - Nông hộ là một tế bào kinh tế-xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn.
- Người chủ nông hộ vừa quản lý điều hành sản xuất, vừa trực tiếp lao động, nên mọi người trong hộ đều gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình san xuất. Về quan hệ phân phối các thành viên trong hộ cùng làm, cùng ở, cùng ăn và mọi công việc đều do chủ hộ trong gia đình bố trí, sắp xếp. - Nông hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, mỗi nông hộ tự quyết định mục tiêu và quá trình san xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ với thị trường, tự hoạch toán. + Đặc trưng về nông hộ.
- Đất đai: Đất đai manh mú, không tập trung và họ luôn gắn chặt với quyền sử dụng đất. Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với nông hộ mọi tư liệu sản xuất đều tác động lên tư liệu này. - Lao động: Sử dụng chủ yếu là lao động gia đình, mọi người trong gia đình đều tham gia lao động theo sức va kha năng của từng người. - Tài chính: Không phân định rạch roi giữa ngân quỹ dùng cho san xuất va cho tiêu dùng trong nông hộ.
Họ luôn ở trong tình trạng thiếu vốn. - Đặc điểm trong sản xuất: Chủ yếu tự cung, tự cấp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi ở mô hình nhỏ. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Đối tượng sản xuất là sinh vật chịu ảnh hưởng của tự nhiên, mang tính thời vụ cao, gặp nhiều khó khăn trong sản xuất như: Sâu bệnh, thiên tai, biến động của thị trường,.
- Đời sống vật chất, tinh thần: Do ở nông thôn cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu thông tin, trình độ dân trí thấp. + Vai trò của nông hộ trong nền kinh tế: Kinh tế nông hộ là một tế bào trong nên kinh tế. Kinh tế nông hộ là xuất phát điểm để đánh giá nền kinh tế của một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống chủ yếu ở nông thôn và hoạt động trong nghành nông nghiệp. Các tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp và vai trò của nó trong phát triển kinh tế.
+ Các tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp. - Chỗ ở và chỗ kinh doanh là một thể tổng hợp: Ngôi nhà của người nông dân cũng đồng thời là nơi làm việc. - Các chức năng của quản lý và quyền sở hữu được kết hợp với nhau: Nông dân là người quản lý đồng thời là người chủ của nông trại. - Phần lớn các nông trại là các đơn vị kinh doanh quy mô nhỏ: Đơn vị tổ chức san xuất trong nông nghiệp thường có quy mô nhỏ.
Ở nước ta bình quân một hộ nông dân thường canh tác khoảng trên dưới một ha. - Sản phẩm nông nghiệp khó tiêu chuẩn hoá: Các quy định về kích thước, hình dạng, đặc tính và phẩm chất. Quá trình tiêu chuẩn hoá này khó có thể thực hiện một cách có hiệu quả đối với sản phẩm nông nghiệp. - Khả năng kiểm soát quá trình san xuất bi hạn chế: Trong san xuất nông nghiệp, việc kiểm soát số lượng sản phẩm sản xuất ra cho phù hợp với nhu cầu của thị trường là một vấn dé khó.
- Cung và cầu của sản phẩm nông nghiệp kém tính co giãn: Khi giá của sản phẩm nông nghiệp tăng lên hay giảm đi thì người tiêu thụ vẫn mua một khối lượng sản phẩm gần như không đổi. Ngược lại sự cung cấp sản phẩm nông nghệp của nông dân đối với sự thay đổi về giá cả là rất hạn chế. - Sản xuất nông nghiệp mang tính rủi ro cao: Có nhiều tác nhân gây ra thiệt hại cho nông nghiệp chẳng hạn như: Lut, bão, hạn hán, sâu rầy,. - Cung ứng vốn cho nông nghiệp là một công việc khó khăn: Nguồn vốn phai chia nhỏ trong khi đó khả năng thu hồi vốn theo đúng hạn là rất thấp.
- Thị trường cho sản phẩm nông nghiệp thường mang tính cạnh tranh rất cao. + Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. - Nguồn cung cấp lương thực cho nhu cầu trong nước, dim bảo an toàn lương thực cho quốc gia. - Di chuyển các nguồn tài nguyên gồm vốn và lao động từ nông nghiệp cho các ngành khác của nền kinh tế tạo điều kiện phát triển cho nên kinh tế hiện đại.
- Cung ứng ngoại tệ thông qua xuất khẩu nông sản để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ nhập vật tư, máy móc thiết bị góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán. - Góp phần thúc đẩy tình hình công nghiệp hoá bằng cách cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, kích thích công nghiệp phát riển. - Nông lâm nghiệp có vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường quốc gia. Khái quát về đặc điểm sinh học, yêu cầu dinh dưỡng và biện pháp kỷ thuật trồng và chăm sóc cà phê.
Khái quát và đặc điểm sinh học. Phân loại cây cà phê. Hiện nay ở nước ta trồng ba loại cà phê khác nhau phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh “ theo phân loại gọi là là loài nhưng theo thói quen gọi là loại” Cà phê chè: Arabica Cà phê vối: Canephona. Cà phê mít: Excalsa.
Mỗi loại cà phê có nhiều giống khác nhau, ở nước ta cũng như trên địa ban nghiên cứu trồng chủ yếu là loài cà phê vối giống Robusta. Do thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai nên giống cà phê Robusta được trồng và phát triển mạnh ở nước ta cũng như trên địa bàn xã Cư Ewi - Huyên krông Ana - Tỉnh Đắk Lắk. do đó dé tài chỉ tập trung nghiên cứu trên cây cà phê vối (Robusta). Đặc điểm sinh học.
Rễ cây cà phê phát triển trên cạn, phân tang rất rõ ràng, khoảng 5cm có một tầng rễ cám từ 0-30cm phân bố rộng hơn tán cây từ 15-20cm. Rễ nhánh mọc theo hướng xiên ngang, còn rễ chính noc sâu từ 60 -100cm. Thân cây cà phê phát triển theo một trục chính tạo thành nhiễu đốt. Tuổi thọ của cây có thể đạt tới 30 năm và chiều cao có thể đạt đến 5-6m, nhưng thực tế người ta chỉ để chiều cao phát triển đến khoảng 1.8m là hãm dot để tạo điều kiện thuận lợi trong chăm sóc.
Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản thì chủ yếu là phát triển cành cấp I (cành mọc từ thân). Còn bước sang thời kỳ kinh doanh thì chủ yếu phát triển cành cấp II, cấp II các cành này mọc từ cành cấp I và cấp II. Lá cà phê mọc đối xứng trên mỗi đốt cành, mỗi cây có thể đạt thể tích lá từ 22-45m”, tuổi thọ của lá trung bình từ 10 -12 tháng tuỳ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, và điều kiện ngoại cảnh của cây cà phê. Hoa cà phê.
Sau khi thu hoạch được khoảng 2 tháng trên các cành có khả năng cho trái thì nụ hoa bắt đầu hình thành và xuất hiện, khi gặp điều kiện thuận lợi nhiệt độ từ 24-25°c và độ ẩm từ 94-97% thì hoa có thể nở rộ, thông thường người ta kích thích bằng cách tước nước. Hoa cà phê thụ phấn chéo. Quả cà phê. Quả cà phê khi còn non có màu xanh, già có màu vàng và khi chín có màu hông đỏ.
Quả cà phê có lớp ngoài cùng là vỏ, tiếp đến là lớp thịt và sau đó đến là lớp vỏ thóc, kế đến là vỏ lụa và sau cùng là nhân. Yêu cầu dinh dưỡng và nước tưới. Yêu cầu về dinh dưỡng. Cây cà phê là loại cây yêu cầu cao về dinh dưỡng.