Tổng quan nghiên cứu

Làn sóng di dân tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên trong hơn một thập kỷ qua đã tạo nên áp lực nặng nề lên hạ tầng xã hội và hệ sinh thái rừng. Thống kê của Ban chỉ đạo Tây Nguyên cho thấy toàn vùng đã tiếp nhận trên 5 vạn hộ với khoảng 22 vạn nhân khẩu di cư tự phát. Tại xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, từ năm 1999 đến tháng 9 năm 2012 đã có 131 hộ dân tộc H’Mông với 670 nhân khẩu dựng nhà, lập nương rẫy trái phép tại các tiểu khu 540, 544 và 547 thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm. Diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá lên đến 385 ha, bình quân mỗi hộ phá hơn 2,9 ha đất lâm nghiệp.

Nhằm chấm dứt tình trạng phá rừng và bảo đảm an sinh xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt dự án định canh định cư buôn H’Mông theo Quyết định số 163/QĐ-UBND với tổng mức đầu tư 13,5 tỷ đồng. Dự án đã giải ngân 13,157 tỷ đồng (đạt 97,47% kế hoạch vốn), xây dựng đồng bộ 4,41 km đường nhựa bán thâm nhập, 1,91 km đường cấp phối nội vùng, 4,77 km đường dây điện trung và hạ thế, trạm cấp nước sinh hoạt công suất 86 m3/ngày đêm cùng điểm trường mầm non và tiểu học.

Mặc dù hạ tầng đã cơ bản hoàn thiện, sau hai năm triển khai chỉ có 51 hộ (chiếm 38,93%) chuyển ra khu tập trung, trong khi 80 hộ (chiếm 61,07%) vẫn kiên quyết bám trụ trong rừng sâu. Luận văn thạc sĩ chính sách công này tập trung phân tích căn nguyên thất bại của dự án, làm rõ sự chênh lệch sinh kế giữa hai nhóm dân cư, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm ổn định dân sinh và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999). Khung lý thuyết này tiếp cận đời sống người dân dựa trên năm nguồn vốn sinh kế cốt lõi: Vốn con người (H), Vốn tự nhiên (N), Vốn tài chính (F), Vốn vật chất (P) và Vốn xã hội (S). Mối quan hệ tương tác giữa năm nguồn vốn này chịu sự chi phối bởi bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, biến đổi khí hậu, biến động giá thị trường nông sản) và cấu trúc thể chế, chính sách của các cấp chính quyền. Từ đó, người dân lựa chọn các chiến lược sinh kế thích ứng để đạt được kết quả sinh kế về thu nhập, an ninh lương thực và phúc lợi bền vững.

Luận văn kết hợp quan điểm của Chambers và Conway (1992) về năng lực chống chịu: sinh kế bền vững khi con người kiên cường đối mặt với các cú sốc bên ngoài và áp lực mà không phá hủy tài nguyên thiên nhiên. Về mặt pháp lý, nghiên cứu căn cứ trên Quyết định số 140/1999/QĐ-BNN-ĐCĐC của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tiêu chuẩn định canh định cư, cùng hệ thống văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ gồm Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 1342/QĐ-TTg và Quyết định số 1776/QĐ-TTg về quy hoạch bố trí dân di cư tự do giai đoạn 2013-2020.

       +-------------------------------------------------------------+
       |             BỐI CẢNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG                       |
       |  (Biến đổi khí hậu, lũ lụt, hạn hán, biến động giá cả)      |
       +------------------------------+------------------------------+
                                      |
                                      v
       +-------------------------------------------------------------+
       |                     TÀI SẢN SINH KẾ                         |
       |     [H] Vốn con người        ---        [N] Vốn tự nhiên    |
       |     [F] Vốn tài chính        ---        [P] Vốn vật chất    |
       |                     [S] Vốn xã hội                          |
       +------------------------------+------------------------------+
                                      |
                                      v
       +-------------------------------------------------------------+
       |             CHÍNH SÁCH, THỂ CHẾ VÀ QUY TRÌNH                |
       |  (Dự án định canh định cư 13,5 tỷ đồng, Luật Đất đai)       |
       +------------------------------+------------------------------+
                                      |
                                      v
       +-------------------------------------------------------------+
       |                   CHIẾN LƯỢC SINH KẾ                        |
       |  (Trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê, khai thác gỗ rừng)       |
       +------------------------------+------------------------------+
                                      |
                                      v
       +-------------------------------------------------------------+
       |                    KẾT QUẢ SINH KẾ                          |
       |  (Gia tăng thu nhập, ổn định chỗ ở, bảo vệ tài nguyên rừng) |
       +-------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu sơ cấp thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với quy mô mẫu là 36 hộ gia đình (chiếm 27,48% tổng số 131 hộ trong buôn). Cỡ mẫu được chia thành 16 hộ cư trú trong khu định canh định cư và 20 hộ cư trú bất hợp pháp trong rừng. Tiến trình chọn mẫu trải qua ba bước:

  1. Phối hợp cùng ban tự quản buôn phân nhóm hộ khá và hộ khó khăn dựa trên tiêu chí quy mô đất đai (hộ khá sở hữu từ 1,5 ha đất trở lên kết hợp có nhà ở kiên cố; hộ khó khăn sở hữu dưới 1,5 ha đất hoặc nhà tạm bợ).
  2. Họp tham vấn mở rộng với già làng, trưởng buôn và đại diện các hộ gia đình để rà soát, kiểm định tính chính xác của danh sách phân nhóm.
  3. Lựa chọn ngẫu nhiên các hộ đại diện trong từng nhóm để tiến hành điều tra bảng hỏi chi tiết và phỏng vấn chuyên sâu.

Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar, Ban Quản lý Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm, Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết cùng các già làng có uy tín. Dữ liệu định lượng được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định phân tích phương sai ANOVA ở mức ý nghĩa 95% (p < 0,05). Lý do lựa chọn kiểm định ANOVA là nhằm xác định chính xác sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về diện tích đất canh tác, quy mô lao động, số vốn vay trung bình, mức thu nhập và cơ cấu chi tiêu giữa bốn nhóm hộ. Phương pháp phân tích định tính giúp mổ xẻ nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc người dân từ chối di dời ra khu quy hoạch mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 36 phiếu điều tra chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về tài sản sinh kế giữa nhóm dân cư cư trú trong rừng và nhóm chuyển ra khu định canh định cư:

+------------------------------------+--------------------+--------------------+
| Tiêu chí so sánh tài sản sinh kế   | Nhóm hộ trong rừng | Nhóm hộ khu ĐCĐC   |
+------------------------------------+--------------------+--------------------+
| Diện tích đất canh tác bình quân   | 2,83 ha/hộ         | 1,69 ha/hộ         |
| Thu nhập bình quân của hộ khá      | 77,85 triệu đ/năm  | 37,99 triệu đ/năm  |
| Tỷ lệ nhà kiên cố & bán kiên cố    | 70,00%             | 56,25%             |
| Tỷ lệ hộ thực hiện có tiền tiết kiệm| 65,00%             | 62,50%             |
| Tỷ lệ thành viên mù chữ            | 21,75%             | 18,92%             |
| Tỷ lệ sử dụng điện lưới sinh hoạt  | 0,00% (dùng nước)  | 68,80%             |
+------------------------------------+--------------------+--------------------+

Thứ nhất, vốn tự nhiên và vật chất của hộ trong rừng vượt trội hoàn toàn. Hộ cư trú trong rừng sở hữu diện tích đất bình quân 2,83 ha/hộ (hộ khá đạt 3,90 ha/hộ), trong đó 90% diện tích có nguồn gốc từ phá rừng khai hoang. Ngược lại, nhóm hộ tại khu định canh định cư chỉ sở hữu bình quân 1,69 ha/hộ (thấp hơn 40,28%). Về nhà ở, 70% hộ trong rừng sở hữu nhà kiên cố và bán kiên cố, 25% hộ trang bị máy bơm nước và đầu tưới cà phê, 10% sở hữu máy cày kéo công suất lớn. Tại khu quy hoạch mới, 43,75% hộ vẫn phải sinh hoạt trong nhà tạm bằng gỗ tạp nền đất.

Thứ hai, thu nhập và tích lũy tài chính có sự cách biệt lớn. Thu nhập bình quân của nhóm hộ khá trong rừng đạt 77,85 triệu đồng/năm (với 96,1% đến từ trồng trọt thâm canh ngô, sắn và cà phê), cao hơn gấp 2,05 lần so với nhóm hộ khá tại khu quy hoạch (37,99 triệu đồng/năm). Tỷ lệ hộ khá trong rừng có tích lũy tiết kiệm đạt 90%. Đối với nhóm khó khăn tại khu định canh định cư, thu nhập bình quân chỉ đạt 32,69 triệu đồng/năm, trong đó khai thác gỗ trái phép chiếm tới 25,8% tổng nguồn thu nhằm bù đắp thiếu hụt chi tiêu.

Thứ ba, sự khác biệt về vốn con người và vốn xã hội. Hộ khó khăn trong rừng có tỷ lệ mù chữ lên đến 26,0%, chủ yếu rơi vào phụ nữ. Hộ tại khu định canh định cư có cơ cấu dân số trẻ hơn (tỷ lệ trẻ dưới độ tuổi đi học chiếm 27,91%). Nhờ được cấp hộ khẩu chính thức, con em nhóm hộ khá tại khu định canh định cư có 8,11% học sinh tiếp tục học lên bậc trung học phổ thông. Nhóm hộ trong rừng chỉ tham gia sinh hoạt tôn giáo và dòng tộc, trong khi nhóm hộ định cư tích cực tham gia vào các hội đoàn chính trị xã hội của buôn.

       CƠ CẤU NGUỒN THU CỦA HỘ KHÓ KHĂN TẠI KHU ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ
       +---------------------------------------------------------+
       | [######################################] Trồng trọt: 65,4%
       | [###############] Khai thác gỗ rừng: 25,8%
       | [####] Làm thuê nông nghiệp: 6,8%
       | [#] Khác: 2,0%
       +---------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các biểu đồ so sánh, nguyên nhân cốt lõi khiến 61,07% số hộ không chịu di dời bắt nguồn từ các bất cập nghiêm trọng trong thiết kế hạ tầng và cơ chế giao đất sản xuất:

  1. Đất ở bị ngập úng nghiêm trọng: Mỗi hộ ra khu định canh định cư được cấp 600m2 đất ở, nhưng 100% hộ dân khảo sát đánh giá chất lượng đất ở mức rất kém. Do khu vực bố trí có địa hình trũng thấp và thiếu hệ thống mương rãnh thoát nước, nền nhà thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa.
  2. Nguồn nước sinh hoạt không an toàn: Trạm cấp nước tập trung 86 m3/ngày đêm bị nhiễm đá vôi nặng (nước cứng). Khi đun sôi xuất hiện cặn vôi dày đặc đóng bám dưới đáy ấm, khiến 100% hộ khá và 67% hộ khó khăn đánh giá chất lượng nước ở mức rất kém và buộc phải bỏ tiền mua nước đóng bình.
  3. Xung đột giữa nơi ở và vùng sản xuất: Khoảng cách từ khu định canh định cư đến nương rẫy canh tác cũ trong rừng quá xa, đường sá hiểm trở làm chi phí đi lại và tiêu thụ xăng xe tăng vọt.
  4. Bất cập chính sách công nhận đất canh tác: Dự án chủ trương hợp thức hóa diện tích đất lâm nghiệp do người dân đã lấn chiếm trong rừng. Chính sách này vô tình tạo động lực để các hộ tiếp tục bám trụ lại rừng nhằm giữ đất và mở rộng diện tích, biến buôn cũ giữa vùng lõi lâm trường thành điểm nóng phá rừng triền miên.

Dự án có kế hoạch đầu tư thêm tuyến đường nhựa xuyên rừng vào khu sản xuất với dự toán lên tới 10,711 tỷ đồng. Phân tích chính sách cho thấy phương án này tiềm ẩn rủi ro rất lớn: vừa tốn kém ngân sách để phục vụ một nhóm nhỏ dân cư, vừa trực tiếp triệt hạ thêm một diện tích rừng tự nhiên phòng hộ và tạo điều kiện cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu dễ dàng hơn.

+--------------------------------------------------------------------------------+
|       ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ CÁC HẠNG MỤC CƠ SỞ HẠ TẦNG DỰ ÁN               |
+----------------------+--------------------+--------------------+---------------+
| Hạng mục công trình  | Đánh giá Tốt (%)   | Đánh giá Kém (%)   | Rất kém (%)   |
+----------------------+--------------------+--------------------+---------------+
| Đường giao thông     | 71,50%             | 0,00%              | 0,00%         |
| Trường học mầm non   | 62,00%             | 0,00%              | 0,00%         |
| Phân hiệu tiểu học   | 63,50%             | 0,00%              | 0,00%         |
| Điện lưới quốc gia   | 56,50%             | 0,00%              | 0,00%         |
| Nước máy sinh hoạt   | 0,00%              | 16,50%             | 83,50%        |
| Quỹ đất ở 600m2      | 14,50%             | 0,00%              | 85,50%        |
+----------------------+--------------------+--------------------+---------------+

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, luận văn kiến nghị gói giải pháp can thiệp chính sách đồng bộ cho ba cấp quản lý:

+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                       LỘ TRÌNH THỰC HIỆN KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH                         |
+--------------------------------------+--------------------+---------------------------+
| Nhóm giải pháp hành động             | Cơ quan chủ trì    | Mục tiêu cụ thể / Hạn định|
+--------------------------------------+--------------------+---------------------------+
| Hoàn thiện san nền, mương thoát nước | UBND tỉnh Đắk Lắk  | 100% diện tích không ngập |
| Chuyển đổi 50 ha đất gần khu ĐCĐC    | UBND tỉnh Đắk Lắk  | Cấp 1,0-1,5 ha/hộ (2014)  |
| Xử lý nước cứng & giảm phí điện nối  | UBND huyện Cư M'gar| 100% dân dùng nước sạch   |
| Đẩy nhanh cấp sổ hộ khẩu chính thức  | UBND huyện Cư M'gar| Cấp xong cho 51 hộ (Q2)   |
| Chuyển giao tiến bộ khuyến nông      | UBND xã Ea Kiết    | Tối thiểu 4 khóa/năm      |
| Tuần tra và xử lý vi phạm phá rừng   | Hạt Kiểm lâm & Xã  | Chấm dứt cưa lốc tại rừng |
+--------------------------------------+--------------------+---------------------------+
  1. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk:

    • Phân bổ nguồn vốn dự phòng khẩn cấp để tiến hành san lấp nâng cao cốt nền và xây dựng hệ thống rãnh thoát nước bê tông kiên cố cho khu dân cư định cư mới.
    • Nâng mức hỗ trợ kinh phí di dời nhà ở từ 5 triệu đồng/hộ lên 8 triệu đồng/hộ theo tờ trình đề xuất của huyện nhằm giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi phí tháo dỡ, dựng nhà.
    • Hủy bỏ phương án xây dựng tuyến đường giao thông xuyên rừng 10,711 tỷ đồng. Chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 50 ha đất lâm nghiệp nghèo kiệt liền kề khu định cư mà Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm đã thu hồi để phân chia đất sản xuất tại chỗ (bình quân 1,0 đến 1,5 ha/hộ), thu hồi triệt để đất rừng bị lấn chiếm ở buôn cũ để tiến hành trồng lại rừng.
  2. Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar:

    • Khẩn trương thành lập đoàn kiểm định liên ngành lấy mẫu xét nghiệm độc chất nguồn nước, lắp đặt bổ sung hệ thống bể lắng lọc khử ion kim loại và làm mềm nước cứng trước khi cấp vào đường ống hộ gia đình.
    • Chỉ đạo cơ quan công an huyện giải quyết dứt điểm việc đăng ký thường trú và cấp phát sổ hộ khẩu cho toàn bộ 51 hộ đã ra định cư trước quý II năm 2014, tạo cơ sở pháp lý để người dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội.
    • Hỗ trợ tối thiểu 50% chi phí mua dây dẫn và đồng hồ điện cho 31,2% số hộ khó khăn chưa có điều kiện đóng điện lưới quốc gia.
    • Thiết lập phương án cưỡng chế hành chính di dời đối với các hộ cố tình không chấp hành sau khi đã được cấp đất sản xuất thay thế hợp pháp.
  3. Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết:

    • Củng cố hệ thống chính trị cơ sở, bầu bổ sung nhân sự là người H’Mông uy tín vào ban quản lý buôn nhằm xóa bỏ tình trạng chia cắt thể chế giữa hai nhóm dân cư.
    • Phối hợp cùng Trạm Khuyến nông huyện tổ chức định kỳ tối thiểu 4 đợt tập huấn chuyển giao kỹ thuật thâm canh bắp lai và chăm sóc cà phê mùa khô mỗi năm.
    • Phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm tăng cường chốt chặn, xử lý nghiêm hành vi sử dụng cưa lốc đốn hạ rừng phòng hộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này mang lại giá trị tham khảo ứng dụng và học thuật chuyên sâu cho bốn nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh và bộ ngành: Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Ủy ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc có thể vận dụng luận văn để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, tránh lặp lại sai lầm trong việc quy hoạch hạ tầng tách rời đất sản xuất khi triển khai Quyết định 1776/QĐ-TTg.
  2. Ban quản lý các dự án di dân định canh định cư: Các chủ đầu tư cấp huyện và ban quản lý dự án nông thôn có thể sử dụng phương pháp khảo sát có sự tham gia của người dân (PRA) và bộ tiêu chí đánh giá cơ sở hạ tầng trong luận văn để giám sát chất lượng các hạng mục cấp nước, san nền, phân lô đất ở.
  3. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Những người nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn có thể khai thác mô hình ứng dụng Khung phân tích sinh kế DFID và phương pháp kiểm định ANOVA trong phân tích chính sách công cấp cơ sở.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính quốc tế: Các chuyên gia của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) trong các chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững có thể tham khảo trường hợp buôn H’Mông làm điển cứu thực tế về tác động của di dân tự do đến tài nguyên rừng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao dự án định canh định cư với vốn đầu tư 13,5 tỷ đồng lại không thu hút được người dân di dời?

Dự án không thành công do không giải quyết được bài toán sinh kế cốt lõi của người dân. Khu quy hoạch mới cấp 600m2 đất ở nhưng bị trũng ngập vào mùa mưa, nguồn nước máy bị nhiễm vôi nặng, hạ tầng điện tốn kém chi phí hòa lưới. Nghiêm trọng hơn, khu dân cư nằm cách xa nương rẫy cũ, làm gia tăng chi phí đi lại trong khi người dân không được cấp đất sản xuất thay thế tại chỗ.

2. Yếu tố nào tạo nên sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa hộ ở trong rừng và hộ tại khu định cư?

Sự chênh lệch bắt nguồn trực tiếp từ quy mô vốn tự nhiên. Hộ khá trong rừng sở hữu diện tích đất canh tác bình quân 3,90 ha đất màu mỡ ven suối, mang lại thu nhập 77,85 triệu đồng/năm từ cây cà phê và hoa màu. Trong khi đó, hộ khá tại khu định cư chỉ sở hữu bình quân 2,21 ha đất, thu nhập đạt 37,99 triệu đồng/năm do nương rẫy manh mún và chi phí vận chuyển nông sản cao.

3. Việc cấp sổ hộ khẩu chính thức mang lại tác động thực chất nào cho sinh kế của hộ dân?

Hộ khẩu là chìa khóa mở rộng vốn xã hội, vốn con người và tài chính. Nhờ có hộ khẩu, tỷ lệ con em hộ khá tại khu định cư học lên trung học phổ thông đạt 8,11% (hộ trong rừng là 0%), đồng thời giúp 10 hộ dân đủ điều kiện vay vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với dư nợ bình quân 11,5 triệu đồng/hộ để đầu tư tư liệu sản xuất.

4. Tại sao tác giả kiến nghị không nên xây dựng tuyến đường 10,711 tỷ đồng nối vào nương rẫy cũ?

Xây dựng tuyến đường 10,711 tỷ đồng là giải pháp kém hiệu quả kinh tế vì tiêu tốn kinh phí rất lớn nhưng chỉ phục vụ số ít hộ dân canh tác trái phép. Việc mở đường nhựa xuyên qua vùng lõi lâm trường sẽ phá hủy trực tiếp diện tích rừng tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu và biến ngôi làng trong rừng thành điểm định cư vĩnh viễn.

5. Khung phân tích sinh kế DFID đóng vai trò gì trong việc đánh giá chính sách công vùng dân tộc thiểu số?

Khung DFID giúp nhà phân tích nhìn nhận toàn diện đời sống người dân qua 5 nguồn vốn (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội), bối cảnh tổn thương và cấu trúc thể chế. Thay vì chỉ nhìn vào các công trình hạ tầng cứng, khung DFID chỉ ra chính xác các nút thắt sinh kế vô hình khiến chính sách hỗ trợ không đi vào đời sống thực tế.

Kết luận

  • Dự án định canh định cư buôn H’Mông đã giải ngân 13,157 tỷ đồng (97,47% vốn) nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra khi chỉ có 51/131 hộ chuyển ra khu quy hoạch, 80 hộ vẫn bám trụ trong rừng.
  • Có sự chênh lệch lớn về sinh kế: Hộ trong rừng sở hữu diện tích đất canh tác bình quân 2,83 ha/hộ và thu nhập hộ khá đạt 77,85 triệu đồng/năm, vượt trội so với mức 1,69 ha/hộ và 37,99 triệu đồng/năm của hộ tại khu định cư.
  • Nguyên nhân thất bại chính sách xuất phát từ việc đất ở bị trũng ngập (100% đánh giá kém), nguồn nước máy nhiễm đá vôi, khoảng cách từ nơi ở đến nương rẫy quá xa và thiếu đất sản xuất liền kề.
  • Đóng góp chính của luận văn là chứng minh bằng thực chứng rằng chính sách hỗ trợ hạ tầng thuần túy sẽ thất bại nếu không gắn liền với việc phân bổ tư liệu sản xuất và giải quyết xung đột sinh kế tại chỗ.
  • Lộ trình can thiệp tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Đắk Lắk dừng ngay dự án đường xuyên rừng 10,711 tỷ đồng, ưu tiên chuyển đổi 50 ha đất gần khu dân cư để cấp cho người dân, đồng thời nâng mức hỗ trợ di dời lên 8 triệu đồng/hộ và xử lý dứt điểm tình trạng nước nhiễm vôi trước quý II năm 2014.

Nghiên cứu là hồi chuông cảnh báo thực tiễn sâu sắc đối với công tác quy hoạch chính sách dân tộc và tái định cư tại Tây Nguyên, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải chuyển đổi tư duy từ hỗ trợ hạ tầng áp đặt sang tiếp cận sinh kế bền vững dựa trên sự tham gia của cộng đồng.