Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2012, khu vực Tây Nguyên ghi nhận trên 50.000 hộ dân với khoảng 220.000 nhân khẩu di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc. Làn sóng di dân này tạo ra áp lực nặng nề lên hạ tầng xã hội, an ninh trật tự và tài nguyên rừng. Tại xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, từ năm 1999 đến tháng 9 năm 2012, đã có 131 hộ với 670 nhân khẩu thuộc đồng bào dân tộc H’mông đến cư trú trái phép tại các tiểu khu 540, 544 và 547 do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm quản lý. Tổng diện tích rừng bị chặt phá để lập làng và làm nương rẫy lên tới 385 ha, bình quân mỗi hộ phá khoảng 2,9 ha rừng.

Nhằm chấm dứt tình trạng phá rừng và ổn định đời sống nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt Dự án điều chỉnh quy hoạch bố trí dân di cư tự do Buôn H’mông vào năm 2009 với tổng vốn đầu tư 13,5 tỷ đồng. Dự án triển khai xây dựng 4,41 km đường nhựa bán thâm nhập, 1,91 km đường cấp phối nội vùng, kéo 4,77 km đường dây điện trung và hạ áp, khoan giếng công suất 86 m3/ngày đêm và xây dựng phân hiệu trường mầm non 2 phòng học. Đồng thời, mỗi hộ di dời được hỗ trợ 5 triệu đồng, cấp 600 m2 đất ở cùng lương thực trong tháng đầu.

Dù nguồn vốn giải ngân đạt 13,157 tỷ đồng (tương đương 97,47% kế hoạch), sau 2 năm triển khai chỉ có 51 hộ chuyển ra khu định cư, trong khi phần lớn các hộ vẫn bám trụ trong rừng sâu. Đứng trước nguy cơ thất bại của dự án, nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải mã nguyên nhân cốt lõi khiến người dân từ chối vào khu tập trung, phân tích sự biến đổi tài sản sinh kế và đề xuất giải pháp chính sách công khả thi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích Sinh kế Bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh ban hành năm 1999. Khung lý thuyết này tiếp cận đời sống người dân thông qua 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội. Khả năng chống chịu của hộ gia đình phụ thuộc vào cách thức họ chuyển hóa các nguồn vốn này dưới tác động của bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả nông sản) và sự chi phối của thể chế, chính sách công.

Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết sinh kế bền vững của Chambers và Conway công bố năm 1992 cùng nghiên cứu về đa dạng hóa sinh kế của Ellis năm 2000. Theo đó, một sinh kế chỉ được coi là bền vững khi có khả năng phục hồi sau các cú sốc bên ngoài mà không làm suy thoái nền tảng tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm định canh định cư được chuẩn hóa dựa trên Quyết định số 140/1999/QĐ-BNN-ĐCĐC của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kết hợp với các văn bản pháp lý nền tảng như Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 1776/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bố trí dân cư vùng di cư tự do.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống kết hợp định tính và định lượng với cỡ mẫu khảo sát trực tiếp là 36 hộ gia đình, bao gồm 16 hộ tại khu định canh định cư và 20 hộ đang cư trú trong rừng. Quy trình chọn mẫu trải qua 3 bước có sự tham gia của chính quyền xã Ea Kiết, ban tự quản buôn và già làng, phân tầng theo 2 nhóm: hộ khá (sở hữu từ 1,5 ha đất trở lên và có nhà ở kiên cố) và hộ khó khăn (dưới 1,5 ha đất, nhà tạm bợ).

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar, ban giám đốc lâm trường Buôn Ja Wầm, kết hợp phỏng vấn nhóm tập trung và khảo sát bảng hỏi chi tiết từng hộ. Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ báo cáo kinh tế xã hội xã Ea Kiết và hồ sơ dự án của Phòng Dân tộc huyện Cư M’gar. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, thống kê so sánh và kiểm định sai biệt trung bình thông qua phân tích phương sai ANOVA ở độ tin cậy 95% nhằm xác thực tính khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nguồn vốn sinh kế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng cho thấy sự chênh lệch sâu sắc về các nguồn lực sinh kế giữa hai nhóm cư dân, giải thích rõ rào cản di dời:

Thứ nhất, về vốn tự nhiên và tư liệu sản xuất, nhóm hộ cư trú trong rừng sở hữu diện tích đất canh tác bình quân 2,83 ha/hộ (trong đó nhóm hộ khá đạt tới 3,9 ha/hộ), cao hơn 67,4% so với mức 1,69 ha/hộ của nhóm định cư tập trung (nhóm khó khăn tại khu định cư chỉ có 1,29 ha/hộ). 90% diện tích đất của nhóm trong rừng là đất khai hoang màu mỡ gần nguồn nước suối.

Thứ hai, về vốn tài chính và thu nhập, thu nhập bình quân của nhóm khá trong rừng đạt 77,85 triệu đồng/hộ/năm, gấp hơn 2 lần so với mức 37,99 triệu đồng của nhóm khá tại khu định cư và gấp 2,38 lần mức 32,69 triệu đồng của nhóm khó khăn. Tỷ lệ tích lũy tiết kiệm của nhóm khá trong rừng đạt 90%, trong khi hơn 55% hộ khó khăn không có bất kỳ khoản tiền tích lũy nào.

Thứ ba, về vốn vật chất, 70% hộ sống trong rừng sở hữu nhà kiên cố và bán kiên cố, 100% có xe máy, nhiều hộ trang bị máy cày, máy tuốt bắp và 50% có hệ thống máy bơm tưới cà phê. Ngược lại, nhóm định cư có tới 43,75% là nhà tạm, 100% hộ thiếu chuồng trại chăn nuôi và nhà vệ sinh đạt chuẩn. Đáng chú ý, có 45% đến 81,25% hộ ở cả hai khu vực sở hữu cưa lốc, phản ánh hoạt động khai thác gỗ rừng vẫn là nguồn thu bổ trợ thường xuyên chiếm 7,65% đến 25,8% tổng thu nhập của nhóm khó khăn.

Thứ tư, về vốn con người và xã hội, nhóm trong rừng có tỷ lệ mù chữ 26% và sinh hoạt khép kín trong dòng tộc, tổ chức tôn giáo mà không tham gia đoàn thể địa phương. Nhóm ra khu định cư dù trẻ hơn và có 8,11% con em được học lên bậc trung học phổ thông nhờ được cấp hộ khẩu, nhưng vốn xã hội lại bị phân mảnh do tách rời cộng đồng truyền thống.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn các chỉ tiêu thu nhập, quy mô đất đai và mức độ sở hữu tài sản lên biểu đồ so sánh, nghịch lý chính sách hiện rõ: nhóm hộ ở lại trong rừng có điều kiện kinh tế và sinh kế vượt trội hơn hẳn nhóm chấp hành chủ trương di dời.

Khảo sát mức độ hài lòng về hạ tầng dự án cho thấy 100% hộ dân đánh giá khu đất ở 600 m2 tại khu định cư ở mức rất kém do nền đất trũng thấp, không có hệ thống mương thoát nước dẫn đến ngập úng nghiêm trọng trong mùa mưa. Bên cạnh đó, 100% hộ khá và 67% hộ khó khăn đánh giá nguồn nước sinh hoạt từ trạm cấp nước tập trung ở mức rất kém vì nước bị nhiễm đá vôi nặng, xuất hiện kết tủa trắng dày đặc khi đun sôi khiến người dân lo sợ không dám sử dụng.

Nguyên nhân cốt lõi khiến chính sách bị tắc nghẽn là khoảng cách giữa nơi ở mới và nương rẫy cũ quá xa, địa hình chia cắt làm phát sinh chi phí xăng xe đi lại hàng ngày. Chính sách hợp thức hóa đất nương rẫy cũ vô tình tạo động lực để người dân ở lại trông coi mùa màng, dựng lán trại và tiếp tục phá rừng. Dự kiến mở tuyến đường 10,711 tỷ đồng nối khu định cư vào vùng sản xuất không những gây lãng phí ngân sách mà còn có nguy cơ mở đường cho lâm tặc triệt hạ diện tích rừng tự nhiên còn lại.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết triệt để bất cập và nâng cao hiệu quả dự án định canh định cư, các giải pháp can thiệp cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể dự án ngay trong giai đoạn 2013-2015. Dừng chủ trương đầu tư tuyến đường 10,711 tỷ đồng xuyên rừng; thay vào đó, chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 150 ha đất lâm nghiệp nghèo kiệt gần khu định cư (diện tích Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm đã thu hồi) để phân chia đất sản xuất tại chỗ cho 131 hộ dân với định mức tối thiểu 1 ha/hộ. Đồng thời, bố trí vốn bổ sung nâng cao cốt nền khu dân cư, hoàn thiện hệ thống thoát nước và nâng mức hỗ trợ di dời từ 5 triệu lên 8 triệu đồng/hộ.

Thứ hai, Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar cần khẩn trương chỉ đạo công an huyện hoàn tất thủ tục cấp sổ hộ khẩu cho 100% các hộ đã chuyển ra khu định cư trong vòng 6 tháng. Đây là điều kiện tiên quyết để bà con tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội với hạn mức 15-30 triệu đồng/hộ và đảm bảo quyền lợi học tập cho con em. Phòng Y tế và Trung tâm Nước sạch môi trường nông thôn phải tiến hành xét nghiệm mẫu nước, lắp đặt hệ thống lọc khử canxi công nghiệp trước khi bàn giao cho người dân sử dụng.

Thứ ba, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm phối hợp với Hạt Kiểm lâm Cư M’gar tổ chức chốt chặn nghiêm ngặt các tiểu khu 540, 544, 547. Sau khi đã bố trí đất sản xuất tại khu mới, chính quyền cần kiên quyết thực hiện các biện pháp hành chính buộc các hộ còn lại rời khỏi rừng, tiến hành trồng lại 385 ha rừng trên các diện tích đất thu hồi.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết cần củng cố hệ thống chính trị cơ sở tại Buôn H’mông, thành lập chi hội phụ nữ, đoàn thanh niên, nông dân và phát huy vai trò của già làng, trưởng họ. Trạm Khuyến nông huyện cần tổ chức 3-5 đợt tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng thâm canh ngô lai, cà phê bền vững mỗi năm, cung cấp bản tin dự báo thời tiết định kỳ giúp giảm thiểu 80% thiệt hại do biến đổi khí hậu và hạn hán mùa khô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hàm lượng khoa học của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:

Một là, cán bộ hoạch định chính sách tại Ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về nguyên nhân thất bại của các dự án di dân tái định cư, làm cơ sở điều chỉnh cơ chế đầu tư công gắn liền với đất sản xuất.

Hai là, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn. Đề tài là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng Khung phân tích Sinh kế Bền vững của DFID và phương pháp kiểm định ANOVA trong nghiên cứu kinh tế hộ dân tộc thiểu số.

Ba là, ban quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia, các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển Châu Á khi thiết kế hợp phần sinh kế cho dự án bảo vệ rừng và giảm nghèo vùng cao.

Bốn là, ban lãnh đạo các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đang tìm kiếm giải pháp giải quyết xung đột đất đai giữa bảo tồn lâm nghiệp và sinh kế người dân di cư tự do.

Câu hỏi thường gặp

Một là, tại sao dự án định canh định cư Ea Kiết đầu tư 13,5 tỷ đồng nhưng tỷ lệ hộ dân vào ở chỉ đạt dưới 39% sau 2 năm? Nguyên nhân trực tiếp do khu ở mới bị ngập úng vào mùa mưa, nguồn nước cấp bị nhiễm vôi cứng và thiếu đất sản xuất liền kề. Người dân buộc phải di chuyển quãng đường dài về rẫy cũ trong rừng, làm tăng chi phí sinh hoạt và giảm thu nhập so với khi sống tự do trong rừng.

Hai là, khác biệt căn bản nhất về nguồn vốn sinh kế giữa hộ trong rừng và hộ tại khu định cư là gì? Hộ trong rừng vượt trội về vốn tự nhiên với diện tích đất bình quân 2,83 ha/hộ và thu nhập 77,85 triệu đồng/hộ/năm ở nhóm khá. Ngược lại, hộ ở khu định cư chỉ có 1,69 ha đất/hộ, thu nhập thấp hơn nhưng có lợi thế về vốn pháp lý khi được cấp hộ khẩu và tiếp cận trường học, y tế.

Ba là, vì sao tác giả kiến nghị không nên xây dựng tuyến đường 10,711 tỷ đồng vào khu sản xuất trong rừng? Việc xây đường nhựa xuyên rừng vừa tốn kém ngân sách vừa hợp thức hóa sự hiện diện của dân cư trong vùng lõi rừng phòng hộ, gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu và phá hủy thêm hàng chục hecta rừng tự nhiên.

Bốn là, khung phân tích sinh kế DFID hỗ trợ phát hiện vấn đề gì mà các báo cáo hành chính thông thường bỏ qua? Khung DFID giúp bóc tách sự tương tác giữa 5 nguồn vốn, chỉ ra rằng hỗ trợ hạ tầng vật chất (đường, điện) đơn thuần không thể bù đắp được sự thiếu hụt vốn tự nhiên (đất canh tác) và sự bất an về vốn xã hội của đồng bào di cư.

Năm là, giải pháp nào mang tính quyết định để chấm dứt tình trạng phá rừng tại xã Ea Kiết? Giải pháp then chốt là thu hồi đất lâm nghiệp nghèo kiệt gần khu dân cư mới để giao đất sản xuất ổn định từ 1 ha/hộ cho người dân, kết hợp cấp hộ khẩu, xử lý nước sạch và áp dụng biện pháp hành chính kiên quyết di dời các hộ ra khỏi rừng.

Kết luận

Nghiên cứu tình huống tại xã Ea Kiết đã chứng minh một cách thuyết phục các luận điểm cốt lõi sau:

  • Dự án định canh định cư 13,5 tỷ đồng đứng trước nguy cơ phá sản do tách rời chính sách an cư với chính sách giải quyết đất sản xuất cho đồng bào di cư tự do.
  • Sự chênh lệch lớn về diện tích đất canh tác (2,83 ha so với 1,69 ha) và thu nhập bình quân (77,85 triệu so với 37,99 triệu đồng) tạo ra động lực kinh tế khiến người dân bám trụ trong rừng thay vì vào khu tập trung.
  • Chất lượng hạ tầng tái định cư bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng ngập úng nền đất và nguồn nước sinh hoạt nhiễm đá vôi chưa được xử lý.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là vận dụng xuất sắc khung phân tích sinh kế DFID để chỉ ra khiếm khuyết trong quy hoạch chính sách công đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do.
  • Trong lộ trình 12-24 tháng tới, chính quyền các cấp cần khẩn trương điều chỉnh quy hoạch quỹ đất sản xuất, cấp hộ khẩu đồng loạt, cải tạo hệ thống cấp nước và thực hiện giải tỏa dứt điểm 131 hộ cư trú trái phép nhằm phục hồi 385 ha rừng phòng hộ.