Tổng quan luận án
Đề tài "Sinh kế vùng gò đồi của người Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên" do nghiên cứu sinh Dương Thùy Linh thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lâm Bá Nam và PGS. Phạm Thị Phương Thái, bảo vệ năm 2019. Luận án thuộc chuyên ngành Việt Nam học, mã số 62220113.
Thái Nguyên là tỉnh trung du mang đặc trưng địa hình chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi cao phía Bắc. Không gian tự nhiên nơi đây phân bố các tộc người theo ba vùng cảnh quan: vùng thung lũng/vùng thấp (người Kinh, Hoa, Tày, Nùng), vùng gò đồi/sườn núi/rẻo giữa (người Sán Dìu, Sán Chay, Dao) và vùng núi cao/rẻo cao (người Hmông). Trong khi các nghiên cứu dân tộc học và nhân học trước đây thường tập trung vào vùng đồng bằng châu thổ hoặc vùng núi cao hiểm trở, cảnh quan gò đồi bán sơn địa với đặc trưng đồi bát úp xen kẽ ruộng trũng lại ít được khảo sát chuyên biệt. Hoạt động mưu sinh của các tộc người phản ánh trực tiếp phương thức ứng xử và tương tác giữa con người với môi trường sống. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, sinh kế của người Sán Dìu có những biến đổi sâu sắc, tác động đa chiều đến các giá trị văn hóa truyền thống.
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ cách thức ứng xử của người Sán Dìu với môi trường tự nhiên và xã hội vùng gò đồi qua các hoạt động sinh kế từ truyền thống đến hiện nay; nhận diện diện mạo văn hóa và các biến đổi sinh kế cùng sự thích ứng văn hóa; từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững gắn với bảo tồn văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:
- Khái quát bức tranh sinh kế để thấy rõ sự thích ứng của tộc người Sán Dìu với cảnh quan tự nhiên vùng gò đồi Thái Nguyên.
- Làm sáng tỏ diện mạo văn hóa gò đồi thông qua sự thích ứng văn hóa của người Sán Dìu với sinh kế từ truyền thống đến hiện tại, thể hiện qua các thành tố văn hóa: tổ chức xã hội (làng bản, gia đình), văn hóa vật chất (ẩm thực, trang phục), văn hóa tinh thần (tín ngưỡng, lễ hội).
- Phân tích nguyên nhân và tác động đến sự biến đổi sinh kế và biến đổi đời sống văn hóa tộc người; góp phần vào quá trình hoạch định chính sách và giải pháp nhằm phát triển sinh kế tộc người bền vững, song song với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng người Sán Dìu.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sinh kế của người Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên (thông qua nghiên cứu trường hợp tại huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Bình) và quá trình thích ứng, sáng tạo văn hóa của cộng đồng qua các hoạt động sinh kế.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Không gian: Khảo sát tại 2 địa bàn điển hình là huyện Đồng Hỷ (xã Linh Sơn – khu vực tập trung đông người Sán Dìu nhất tỉnh, tiếp giáp thành phố Thái Nguyên, có mức độ giao lưu kinh tế - xã hội cao) và huyện Phú Bình (xã Bàn Đạt – vùng miền núi khó khăn, cách trung tâm huyện khoảng 20 km). Cả hai địa bàn đều mang đặc trưng cảnh quan gò đồi đồi bát úp nhưng đại diện cho hai mức độ phát triển và giao lưu kinh tế khác nhau.
- Thời gian: Nghiên cứu tiến trình sinh kế và sự thích ứng văn hóa từ truyền thống đến hiện tại, lấy mốc năm 1986 (thời điểm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới) làm ranh giới đối sánh quá trình chuyển dịch sinh kế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo ba nhóm vấn đề học thuật chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về sinh kế và sinh kế bền vững trên thế giới và ở Việt Nam. Trên thế giới, tác giả điểm lại các công trình nền tảng của Robert Chambers (thập niên 1980) về phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA); Robert Chambers và Gordon Conway (1991) với định nghĩa sinh kế nông thôn bền vững; Ian Scoones (1998, Viện IDS) với khung phân tích sinh kế bền vững gồm nguồn lực, chiến lược và thể chế; Lasse Krantz (2001) về tiếp cận sinh kế bền vững trong giảm nghèo; Koos Neefjes (2003, Oxfam) về môi trường và sinh kế; Amartya Sen về quyền và tiếp cận nguồn lực; cùng khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID). Tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu dân tộc học tiếp cận sinh kế như hoạt động kinh tế của Viện Dân tộc học (1978), Trần Bình (1998, 2005), Bùi Thị Bích Lan (2009), Phạm Thị Thu Hà (2012, 2017), Dương Quỳnh Phương (2017); hướng nghiên cứu chuyển dịch sinh kế dưới tác động của chính sách, tái định cư và đô thị hóa của Hoàng Cầm (2014), Trịnh Thị Hạnh (2012, 2018), Phạm Quang Linh (2014), Nguyễn Thị Tám (2015), Phan Thị Ngọc (2016); và hướng tiếp cận khung sinh kế bền vững DFID của Nguyễn Văn Sửu (2008, 2014), Triệu Văn Hùng, Phạm Thị Sến, Đặng Bá Đàn (2010), Võ Văn Tuấn, Lê Cảnh Dũng (2011), Võ Tòng Xuân, Trần Thị Phương, Lê Cảnh Tùng (2008), Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang, Mai Văn Thành (2005), Nguyễn Thị Mỹ Vân (2013), Hoàng Huy Tuấn (2013), Khổng Diễn, Bế Viết Đẳng, Cầm Trọng, Nguyễn Văn Huy, Lê Sĩ Giáo, Lâm Bá Nam.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về người Sán Dìu. Bắt đầu từ khảo cứu dân tộc học của A.C Bonifaci (1898-1901), công trình tổng quan của Ma Khánh Bằng (1983, 1985, 2004), Viện Dân tộc học (1978), Địa chí Thái Nguyên (2008), Vương Xuân Tình và Nguyễn Thẩm Thu Hà (2017). Các nghiên cứu chuyên sâu theo địa phương và thành tố văn hóa gồm: Ngô Văn Trụ và Nguyễn Xuân Cần (2003 - Bắc Giang); Nịnh Văn Độ, Nguyễn Phi Khanh, Hoàng Thế Hùng (2006 - Tuyên Quang); Nguyễn Ngọc Thanh (2006); Chu Thái Sơn (2004); Hoàng Phương Mai (2011 - gia đình); Diệp Trung Bình (2002, 2004, 2007, 2014 - ẩm thực, chu kỳ đời người, tri thức dân gian); Nguyễn Thị Quế Loan (2012, 2014, 2015 - ẩm thực); Phạm Thị Phương Thái (2011 - tang ma); Trần Quốc Hùng (2012 - chu kỳ đời người ở Quảng Ninh); Diệp Thanh Bình (2007 - dân ca Soọng cô); Nguyễn Thẩm Thu Hà (2016 - tri thức địa phương quản lý tài nguyên); Lâm Hùng / Lâm Quang Hùng (1999, 2000, 2001); Tạ Thị Tâm (2006 - cây vải thiều ở Lục Ngạn); Đàm Thị Uyên, Nguyễn Thị Hải; Mai Thị Hồng Vĩnh (2012); Nguyễn Xuân Chiến (2015); Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Quế Loan (2017).
Nhóm 3: Các nghiên cứu về sinh thái học nhân văn và sinh thái nhân văn vùng gò đồi. Tác giả khảo cứu lý thuyết sinh thái nhân văn của Georges Olivier (1975), Nguyễn Văn Yên, Trần Lê Bảo, Hoàng Duy Chúc, Vũ Minh Tâm, Phạm Thị Ngọc Trâm (2001); các công trình địa lý nhân văn kinh điển của Pierre Gourou (1936), Jeanne Cuisinier (1946), Hoàng Hữu Bình (1998); khái niệm "vùng cảnh quan - tộc người" của Ngô Đức Thịnh (1993, 2004) và Lâm Bá Nam (2004); các nghiên cứu địa lý và kinh tế gò đồi của Lê Bá Thảo (1977, 1998), Trần Đình Lý (1995), Nguyễn Trần Trọng, Đồng Xuân Ninh, Lưu Đức Hồng, Đào Xuân Cần (1997).
Khoảng trống học thuật luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình trước đây chỉ mô tả các hoạt động kinh tế truyền thống như một mảnh ghép riêng rẽ trong bức tranh văn hóa tộc người, hoặc nghiên cứu sinh kế dưới góc độ kinh tế - môi trường thuần túy. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách vận dụng cách tiếp cận liên ngành của Khu vực học và Sinh thái học nhân văn, đặt sinh kế trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường tự nhiên gò đồi và sự thích ứng, biến đổi của toàn bộ hệ thống văn hóa (vật chất, xã hội, tinh thần) của người Sán Dìu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên nền tảng các lý thuyết và khái niệm công cụ:
- Khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) của DFID: Tiếp cận sinh kế qua 5 nguồn vốn (tài sản): vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nước, khí hậu), vốn con người (kỹ năng, học vấn, sức khỏe, lao động), vốn vật chất (nhà ở, công cụ sản xuất, cơ sở hạ tầng), vốn tài chính (thu nhập, tiết kiệm, nguồn vốn tín dụng) và vốn xã hội (mạng lưới dòng họ, láng giềng, sự tương trợ cộng đồng). Khung phân tích xem xét sự tương tác giữa các nguồn vốn với bối cảnh dễ tổn thương và thể chế, chính sách để định hình chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
- Tiếp cận Khu vực học (Area Studies): Kế thừa quan điểm của GS. Yumio Sakurai, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc và PGS.TS Trương Quang Hải, coi khu vực học là khoa học liên ngành nghiên cứu không gian lịch sử - văn hóa - xã hội, tìm hiểu mối tương tác tổng thể giữa con người và môi trường tự nhiên trong một không gian cụ thể.
- Tiếp cận Sinh thái học nhân văn (Human Ecology): Khởi xướng từ Julian Steward và các học giả văn hóa sinh thái nhân văn, phân tích sự thích nghi của con người trước các điều kiện môi trường tự nhiên, hình thành nên vùng cảnh quan tộc người mang đặc thù riêng biệt.
- Khái niệm vùng gò đồi và sinh kế vùng gò đồi: Vùng đất chuyển tiếp trung du có độ cao tuyệt đối từ 25 m đến 300 m, độ dốc 25-30 độ, địa hình đồi bát úp xen kẽ ruộng trũng thung lũng. Sinh kế vùng gò đồi là tổng thể phương thức mưu sinh được thiết lập dựa trên việc khai thác các đặc tính của dạng địa hình này.
- Khái niệm thích ứng văn hóa: Quá trình cộng đồng điều chỉnh hành vi, hoạt động sản xuất, tổ chức xã hội và hệ thống giá trị để thiết lập trạng thái cân bằng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả thực hiện trong thực tế bao gồm:
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức của Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học, Địa lý học, Kinh tế học và Xã hội học để phân tích sinh kế trong mối quan hệ đa chiều.
- Phương pháp điền dã dân tộc học (phương pháp chủ đạo):
- Quan sát và Quan sát tham dự: Trực tiếp theo dõi cảnh quan, nhà ở, phương thức canh tác, các sinh hoạt thường nhật và tham gia vào hoạt động lao động, nghi lễ cộng đồng tại cơ sở.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện với nhiều nhóm đối tượng đại diện cho các lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, người am hiểu văn hóa và cán bộ chính quyền tại xã Linh Sơn (Đồng Hỷ) và xã Bàn Đạt (Phú Bình).
- Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề về chuyển dịch sinh kế, yếu tố tác động và xu hướng văn hóa với các nhóm cư dân địa phương.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Xử lý hệ thống sách chuyên khảo, báo cáo, đề tài nghiên cứu đã công bố.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý chuỗi số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, các huyện Đồng Hỷ, Phú Bình và báo cáo kinh tế - xã hội của UBND các xã nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (trước và sau năm 1986), so sánh không gian (giữa xã Linh Sơn cận đô thị và xã Bàn Đạt vùng xa), và so sánh tộc người (giữa người Sán Dìu với các dân tộc khác cùng cư trú ở vùng gò đồi).
Nguồn tư liệu sử dụng gồm: tư liệu điền dã dân tộc học qua phỏng vấn và quan sát thực địa (giai đoạn tác giả làm NCS); các văn bản báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, số liệu nông nghiệp của UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Đồng Hỷ, UBND huyện Phú Bình và các xã nghiên cứu; Niên giám thống kê địa phương; các công trình nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu, sinh kế và môi trường sinh thái nhân văn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về sinh kế, các tiếp cận sinh thái học nhân văn, khu vực học và phác thảo diện mạo tự nhiên, dân cư tại hai địa bàn khảo sát thuộc tỉnh Thái Nguyên.
| Tiêu chí so sánh |
Huyện Phú Bình (Xã Bàn Đạt) |
Huyện Đồng Hỷ (Xã Linh Sơn) |
| Vị trí địa lý |
Phía Nam tỉnh Thái Nguyên; xã Bàn Đạt thuộc vùng I miền núi khó khăn, xa trung tâm huyện 20 km. |
Giáp ranh thành phố Thái Nguyên; xã Linh Sơn có mức độ giao lưu kinh tế - văn hóa cao. |
| Đặc điểm địa hình |
Đồng bằng aluvi xen đồi bát úp thấp, độ cao tuyệt đối 50-70 m, đỉnh cao nhất Đèo Bóp (250 m). Diện tích có độ dốc dưới 8 độ chiếm 67,56%. |
Dãy núi thấp đan xen đồi bát úp (50-60 m) và thung lũng, độ dốc 15-25 độ; vùng phía Bắc có núi đá vôi cao đến 600 m. |
| Khí hậu - Thủy văn |
Nhiệt độ trung bình 23,1 - 24,4°C; lượng mưa 2000 - 2500 mm; sông Cầu (29 km), sông Máng (31 km), 3 dòng suối chính. |
Nhiệt độ trung bình 22,0°C; lượng mưa 2000 - 2500 mm; sông Cầu (47 km) làm ranh giới phía Tây; mật độ suối 0,2 km/km². |
| Đất đai - Rừng |
Đất nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém, mùn 0,5 - 0,7%, pH 4 - 5. Rừng chiếm 25,4% diện tích (chủ yếu là keo trồng). |
Diện tích rừng lớn; rừng tự nhiên 14.432,2 ha, rừng trồng 7.000 ha; đất trống đồi trọc 4.869,2 ha. |
| Tài nguyên khoáng sản |
Cát, sỏi ven sông Cầu làm vật liệu xây dựng; không có mỏ khoáng sản quy mô lớn. |
Quặng sắt trữ lượng lớn (Trại Cau 20 triệu tấn, Linh Sơn 1-3 triệu tấn), đá vôi, sét, chì kẽm, vàng sa khoáng. |
| Đặc điểm cư trú Sán Dìu |
Cư trú tập trung tại tả ngạn sông Máng (8 xã, gồm 7 xã miền núi: Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh...). |
Cư trú đông nhất tỉnh Thái Nguyên, tập trung nhiều tại xã Linh Sơn, Nam Hòa. |
Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Sán Dìu
Chương này phục dựng bức tranh sinh kế truyền thống của người Sán Dìu trên nền tảng khai thác cảnh quan gò đồi:
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Là hoạt động kinh tế chủ đạo, kết hợp giữa trồng trọt ruộng nước và canh tác nương đồi. Người Sán Dìu tận dụng ruộng bậc thang thấp hoặc thung lũng hẹp ven suối để cấy lúa nước (lúa mùa, lúa chiêm). Trên đất gò đồi, soi bãi, đồng bào trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, củ đậu, lạc, đậu đỗ. Lịch nông vụ tuân thủ chặt chẽ theo âm lịch và mùa vụ thời tiết trung du. Chăn nuôi truyền thống tập trung vào trâu, bò (cung cấp sức kéo quan trọng và phân bón), lợn, gà (phục vụ sinh hoạt và cúng lễ).
- Nghề thủ công gia đình: Mang tính tự cấp tự túc nhằm phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống. Các nghề phổ biến gồm đan lát mây tre (đan bồ cào, bồ đựng thóc, rổ rá), nghề mộc làm nhà, làm nông cụ và nghề rèn nguội. Điểm đặc thù trong văn hóa vật chất của người Sán Dìu là sáng chế và sử dụng "xe quẹt" (loại phương tiện vận chuyển không bánh bằng gỗ, càng trượt trên mặt đất dốc gò đồi, do trâu kéo), phục vụ vận chuyển nông sản và phân bón trên địa hình đồi dốc.
- Khai thác tự nhiên và hoạt động trao đổi: Khai thác tài nguyên rừng (lấy củi, gỗ dựng nhà, hái nấm, măng, thảo dược làm thuốc), đánh bắt cá ở sông Cầu và các khe suối, săn bắt thú nhỏ trên đồi rừng. Hoạt động trao đổi hàng hóa chủ yếu diễn ra tại các chợ phiên nông thôn theo hình thức hàng đổi hàng hoặc dùng tiền mặt quy mô nhỏ để bù đắp các nhu yếu phẩm không tự sản xuất được như muối, vải, sắt thép.
Chương 3: Biến đổi sinh kế của người Sán Dìu
Chương 3 phân tích những biến đổi của sinh kế người Sán Dìu từ sau năm 1986 đến nay:
- Biến đổi trong sản xuất nông nghiệp: Thay thế các giống lúa cổ truyền bằng giống lúa lai, lúa thuần chất lượng cao; tăng vụ, áp dụng kỹ thuật thâm canh, kiên cố hóa hệ thống kênh mương tưới tiêu. Trên đất đồi, người dân chuyển dịch mạnh mẽ từ trồng sắn, ngô năng suất thấp sang trồng cây công nghiệp dài ngày (đặc biệt là cây chè với các giống mới như chè cành, chè Bát Tiên, LDP1, TRI777) và cây ăn quả có giá trị thương phẩm cao. Chăn nuôi chuyển dịch từ thả rông sang mô hình trang trại, gia trại (chăn nuôi gà đồi ở Phú Bình, nuôi lợn hướng nạc thương phẩm).
- Biến đổi trong các hoạt động khác và sự xuất hiện sinh kế mới: Các nghề thủ công truyền thống (đan lát, làm xe quẹt) dần mai một do sự xuất hiện của phương tiện cơ giới và đồ gia dụng công nghiệp. Xuất hiện các hoạt động kinh tế mới: kinh doanh dịch vụ thương mại cá thể, thu mua chế biến nông sản, dịch vụ máy cày máy bừa. Một bộ phận lớn lao động trẻ chuyển sang làm công nhân tại các mỏ khoáng sản (mỏ sắt Trại Cau, Linh Sơn), nhà máy xi măng, xí nghiệp luyện kim, các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh (KCN Sông Công, Yên Bình, Điềm Thụy) hoặc tham gia xuất khẩu lao động.
- So sánh sinh kế và xu hướng biến đổi: So với người Sán Chay, Dao và Kinh cùng cư trú ở vùng gò đồi, người Sán Dìu thể hiện sự nhạy bén trong thâm canh cây chè và chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp tại các vùng ven đô (Linh Sơn), trong khi vùng xa (Bàn Đạt) chú trọng kinh tế đồi rừng và chăn nuôi đại gia súc, gia cầm.
- Nguyên nhân biến đổi: Luận án chỉ ra ba nhóm nguyên nhân: (1) Sự phát triển nội tại của cộng đồng và quá trình giao thoa văn hóa; (2) Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa; (3) Tác động từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước (chính sách giao đất giao rừng, chương trình xây dựng nông thôn mới, kiên cố hóa kênh mương, các nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ NHCSXH).
Chương 4: Văn hóa của người Sán Dìu, sự thích ứng qua các hoạt động sinh kế ở vùng gò đồi và những vấn đề đặt ra
Chương này phân tích các dạng thức văn hóa và sự biến đổi của cấu trúc văn hóa tộc người trong mối quan hệ với sinh kế:
- Các dạng thức văn hóa gò đồi qua sinh kế:
- Văn hóa vật chất: Công cụ sản xuất (xe quẹt, bồ cào gỗ) thích nghi với địa hình sỏi đá, đồi dốc. Trang phục truyền thống của phụ nữ (váy/quần cộc, yếm, xà cạp) gọn gàng, thuận tiện khi leo đồi hái chè, đi rừng. Ẩm thực gắn liền với hệ sinh vật gò đồi (bánh tro, bánh bạc đầu, xôi ngũ sắc, canh rau rừng, các sản phẩm từ chè xanh).
- Tổ chức xã hội: Cấu trúc làng xóm (lập làng ven chân đồi, gần nguồn nước), cấu trúc gia đình và dòng họ (vai trò gắn kết của dòng họ trong tương trợ lao động, duy trì tập quán đổi công, vần công khi vào vụ mùa gặt hái hoặc đồi chè).
- Văn hóa tinh thần: Hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp phản ánh sự phụ thuộc và tôn trọng thiên nhiên (lễ cúng cầu mùa, lễ cúng thần rừng, thần núi, cúng cơm mới); nghệ thuật dân gian với các làn điệu dân ca Soọng cô được hát trong lao động sản xuất, khi đi nương, hái chè và giao lưu hội hè.
- Xu hướng thích ứng văn hóa qua biến đổi sinh kế: Quá trình công nghiệp hóa và đa dạng hóa sinh kế tạo ra sự phân hóa giàu nghèo, làm suy giảm vai trò của thiết chế đổi công truyền thống; quy mô gia đình chuyển dịch từ gia đình mở rộng (nhiều thế hệ) sang gia đình hạt nhân; tiếng nói mẹ đẻ, trang phục cổ truyền và thực hành hát Soọng cô có nguy cơ mai một trong thế hệ trẻ.
- Đề xuất giải pháp: Luận án kiến nghị hệ thống giải pháp: quy hoạch phát triển nông nghiệp gò đồi bền vững (thương hiệu chè an toàn VietGAP, chăn nuôi gà đồi sinh học); tăng cường đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất nông nghiệp; hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và giao thông nông thôn; gắn kết bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể (Soọng cô, tri thức dân gian, lễ hội truyền thống) với phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp - văn hóa cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về sinh kế của người Sán Dìu bằng phương pháp tiếp cận liên ngành của Khu vực học kết hợp với Sinh thái học nhân văn và khung sinh kế bền vững (DFID). Luận án làm rõ mối quan hệ tương tác biện chứng ba chiều: môi trường tự nhiên (vùng gò đồi) – sinh kế (phương thức thích ứng sinh tồn) – văn hóa tộc người (vật chất, xã hội, tinh thần). Công trình góp phần bổ sung lý luận về "vùng cảnh quan văn hóa gò đồi" trong hệ thống phân loại cảnh quan tộc người ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh toàn diện, chi tiết và có căn cứ khoa học về thực trạng sinh kế truyền thống và sự chuyển dịch sinh kế của người Sán Dìu ở Thái Nguyên qua các giai đoạn lịch sử. Luận án chỉ ra các xu hướng biến đổi kinh tế - xã hội, mức độ tổn thương và khả năng thích ứng văn hóa của đồng bào trước làn sóng công nghiệp hóa, đô thị hóa; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sinh kế bền vững trên cơ sở 5 nguồn vốn gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của tộc người.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn lực và thời gian nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát thực địa tại 2 huyện (Đồng Hỷ và Phú Bình) thuộc tỉnh Thái Nguyên, chưa mở rộng so sánh định lượng trên diện rộng với các cộng đồng người Sán Dìu ở các tỉnh trung du khác như Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc hay Tuyên Quang.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả gợi mở việc tiếp tục theo dõi dài hạn quá trình biến đổi sinh kế khi các dự án khu công nghiệp công nghệ cao và đô thị hóa mở rộng sâu vào vùng nông thôn Thái Nguyên; đồng thời mở rộng nghiên cứu đối sánh liên vùng về sinh kế và thích ứng văn hóa của người Sán Dìu trên toàn bộ địa bàn phân bố ở miền Bắc Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Việt Nam học, Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học, Địa lý nhân văn và Phát triển nông thôn.
Công trình cũng là tài liệu cung cấp luận cứ thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách tại Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền cấp huyện, xã vùng trung du miền núi trong việc xây dựng các đề án giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi, đào tạo nghề nông thôn và lồng ghép bảo tồn văn hóa tộc người thiểu số trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tác giả lại lựa chọn 2 điểm nghiên cứu là huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Bình?
Cả hai huyện đều đại diện cho cảnh quan gò đồi đồi bát úp của tỉnh Thái Nguyên. Đồng Hỷ là huyện có số lượng người Sán Dìu cư trú đông nhất tỉnh, xã Linh Sơn nằm tiếp giáp thành phố Thái Nguyên nên có mức độ giao lưu kinh tế - xã hội cao và chịu tác động mạnh của công nghiệp hóa. Ngược lại, xã Bàn Đạt của huyện Phú Bình là xã miền núi khó khăn, xa trung tâm huyện 20 km, đại diện cho khu vực thuần nông nghiệp gò đồi. Khảo sát hai địa bàn này tạo ra góc nhìn đối sánh toàn diện về sự dịch chuyển sinh kế.
-
Phương tiện "xe quẹt" của người Sán Dìu có đặc điểm gì và thể hiện sự thích ứng sinh thái như thế nào?
Xe quẹt là phương tiện vận chuyển truyền thống đặc thù của người Sán Dìu, được chế tác hoàn toàn bằng gỗ không có bánh xe. Xe có hai càng trượt dài tì sát mặt đất, do trâu kéo. Cấu tạo này giúp xe di chuyển vững chắc, không bị lật khi vận chuyển nông sản, phân bón và củi trên địa hình đồi dốc, mấp mô, trơn trượt của vùng gò đồi sỏi đá mà các loại xe lăn bánh thông thường khó hoạt động.
-
Khung sinh kế bền vững của DFID được luận án vận dụng phân tích những nguồn lực (nguồn vốn) nào?
Luận án vận dụng phân tích 5 nguồn vốn gồm: (1) Vốn tự nhiên (đất đai đồi bát úp, ruộng trũng, tài nguyên rừng, sông Cầu, sông Máng); (2) Vốn con người (quy mô lao động hộ gia đình, kỹ năng canh tác nương đồi, học vấn); (3) Vốn vật chất (nông cụ, xe quẹt, nhà ở, kênh mương, giao thông nông thôn); (4) Vốn tài chính (thu nhập từ chè, gia súc, tiền lương công nhân, vốn vay NHCSXH); (5) Vốn xã hội (quan hệ dòng họ, tình làng nghĩa xóm, tập quán đổi công, vần công).
-
Sinh kế của người Sán Dìu tại Thái Nguyên có những biến đổi nổi bật nào sau năm 1986?
Sinh kế chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa: trong nông nghiệp, diện tích sắn/ngô đồi được thay thế bằng chè đặc sản (chè cành, chè Bát Tiên) và gà đồi thương phẩm; nghề thủ công đan lát, xe quẹt thu hẹp; hình thành các ngành nghề mới gồm kinh doanh dịch vụ, làm công nhân trong các mỏ sắt, nhà máy xi măng, khu công nghiệp và xuất khẩu lao động.
-
Biến đổi sinh kế tác động như thế nào đến các giá trị văn hóa truyền thống của người Sán Dìu?
Biến đổi sinh kế giúp nâng cao mức sống vật chất nhưng cũng dẫn đến những thay đổi văn hóa: thiết chế đổi công truyền thống suy giảm do tính chất kinh tế thị trường; quy mô gia đình chuyển sang gia đình hạt nhân; tiếng nói tộc người, trang phục truyền thống và dân ca Soọng cô đứng trước nguy cơ mai một trong thế hệ trẻ do tiếp xúc thường xuyên với môi trường công nghiệp và đô thị.
Kết luận
Luận án "Sinh kế vùng gò đồi của người Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên" của NCS Dương Thùy Linh là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa sinh kế và văn hóa tộc người trên vùng cảnh quan gò đồi trung du từ góc độ liên ngành Việt Nam học và Sinh thái học nhân văn. Luận án đã phục dựng bức tranh sinh kế truyền thống, chỉ rõ các quy luật chuyển dịch sinh kế sau năm 1986 và phân tích mức độ thích ứng văn hóa của cộng đồng người Sán Dìu tại Đồng Hỷ và Phú Bình. Các kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa các tộc người thiểu số vùng trung du miền núi phía Bắc.