CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về sinh kế 1.
Những nghiên cứu sinh kế trên thế giới Những ý tưởng đầu tiên về sinh kế đã được giới thiệu trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80 và sau đó được Chambers và Conway phát triển thêm vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Từ những năm 1980, Chambers đã là một trong những người ủng hộ hàng đầu cho việc đưa người nghèo, cơ cực và thiệt thòi trở thành đối tượng trong các nghiên cứu của chính sách phát triển. Đặc biệt, ông lập luận họ nên được coi là trung tâm khi xác định các vấn đề phát triển, xây dựng chính sách, thực hiện dự án và việc nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA). Đây là phương pháp được sử dụng bởi các tổ chức phi chính phủ (Non- governmental organisation - NGOs) và các cơ quan khác có liên quan đến phát triển quốc tế.
Cách tiếp cận này nhằm mục đích kết hợp các kiến thức và ý kiến của người dân nông thôn trong quy hoạch và quản lý các dự án và chương trình phát triển. Năm 1991, Robert Chambers và Gordon Conway đề xuất một định nghĩa sinh kế nông thôn bền vững, được áp dụng phổ biến nhất ở cấp độ hộ gia đình. Theo hai ông, sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết khác, sinh kế được nghiên cứu dưới góc độ như phương cách để con người sinh tồn. Một sinh kế bền vững là có thể đối phó, phục hồi từ sự căng thẳng và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của mình và cung cấp cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ tiếp theo, đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn.
Các ông cũng đã dự đoán: trong thế kỷ 21 sinh kế sẽ là cần thiết bởi sự gia tăng dân số hơn hai hay ba lần của con người hiện nay [123, tr. Ý tưởng sinh kế bền vững đã được Ủy ban Brundtland về Môi trường và Phát triển và Hội nghị Quốc tế năm 1992 về Môi trường và Phát triển giới thiệu đầu tiên nhằm mở rộng các khái niệm, đặt sinh kế bền vững là một mục tiêu rộng lớn cho xóa đói giảm nghèo.nguyen TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nguyen Gần đây các khái niệm và cách tiếp cận sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods - SL) của Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies - IDS) và Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) đã được đưa vào trong các nghiên cứu. Người đề xuất hàng đầu, Ian Scoones [118] của Viện Nghiên cứu Phát triển đề xuất một định nghĩa được sửa đổi của sinh kế bền vững: Một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống. Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó với căng thẳng và hồi phục và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của mình, trong khi không gây xói mòn cơ sở tài nguyên thiên nhiên.
Các nhóm nghiên cứu phát triển cũng vạch ra một khuôn khổ dự kiến để phân tích sinh kế nông thôn bền vững. Nó có ba yếu tố: nguồn lực sinh kế, chiến lược sinh kế, và các quá trình thể chế và cơ cấu tổ chức. Lasse Krantz [119], trong “The Sustainable Livelihood Approach to Poverty Reduction” đã đánh giá rằng: cách tiếp cận sinh kế bền vững - sustainable livelihood là một nỗ lực để vượt qua được những định nghĩa thông thường và phương pháp xoá đói giảm nghèo. Những quan điểm, khái niệm được tìm thấy là quá hẹp, vì họ chỉ tập trung vào các khía cạnh nhất định hoặc những biểu hiện của nghèo, như: thu nhập thấp hoặc không xem xét các khía cạnh quan trọng khác của nghèo đói như dễ bị tổn thương và loại trừ xã hội.
Những nghiên cứu về sinh kế trước đó chưa được nhìn nhận một cách toàn diện. Đặt trong phương pháp liên ngành, sinh kế nằm trong mối quan hệ với môi trường sinh thái, hoàn cảnh kinh tế và xã hội và hướng tới mục tiêu bền vững. Khái niệm sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận thống nhất và tích hợp để giảm nghèo. Qua lao động, con người có sự tác động đến các yếu tố của tự nhiên như đất, nước, khí hậu… Giữa môi trường và phương thức mưu sinh có mối quan hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại bền chặt, khăng khít.
Con người lao động dựa trên những tài nguyên tự nhiên để sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và của cải phục vụ cho mục đích sinh tồn và phát triển. Quá trình đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường. Trong những thập niên gần đây, khi biến đổi khí hậu diễn ra nhanh, mạnh mẽ, vấn đề môi trường đã là mối quan tâm của cả nhân loại và các quốc gia trên thế giới.nguyen TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nguyen Năm 2003, Koos Neefjes [72] đã cho ra đời cuốn “Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững”. Cuốn sách là công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với môi trường theo nghĩa rộng (bao gồm cả con người và các quan hệ xã hội), mối quan hệ giữa môi trường, nghèo khổ và phát triển để đề ra chính sách và chiến lược bảo vệ và phát triển môi trường bền vững chống đói nghèo trên toàn thế giới.
Xuyên suốt cuốn sách là những đề xuất thực tiễn dựa trên các nghiên cứu điển hình rút ra từ những kinh nghiệm phong phú của Oxfam Anh về công tác phát triển và cứu trợ các cộng đồng. Cuốn sách nhằm mục đích ủng hộ các cuộc vận động của các tổ chức phát triển địa phương và quốc tế, cải thiện việc soạn thảo và thực thi các chiến lược phát triển và tăng cường các dự án hoạch định, giám sát với sự tham gia, đánh giá tác động. Công trình phản ánh mối quan hệ giữa đói nghèo và sự thay đổi của môi trường, từ cả góc độ lý thuyết và thực hành. Qua đó, giới thiệu các khung hành động của các cơ quan phát triển, thăm dò các quan hệ quyền lực và tư tưởng về sự tham gia của những người có lợi ích thiết thân và đặc biệt là quan niệm về sinh kế bền vững.
Tiếp đó thảo luận những công cụ và phương pháp tiếp cận dự án quản lý. Cuối cùng xem xét làm thế nào để các chiến lược và chính sách có thể giải quyết được những nguyên nhân cơ cấu của môi trường xuống cấp và nghèo đói. Cuốn sách là tài liệu hữu ích cho công tác nghiên cứu và xây dựng chính sách, nhất là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và đói nghèo, làm sao vừa bảo vệ được môi trường vừa tạo thêm công ăn việc làm cho người dân nghèo ở nông thôn cũng như thành thị. Trong nghiên cứu về phát triển nông thôn và giảm nghèo, vấn đề sinh kế và sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, có thể được khái quát thành ba hướng tiếp cận chính, đó là các tiếp cận đồng đại, tiếp cận lịch đại và hướng tới tương lai [82, tr.
Về mặt khái niệm, các tiếp cận sinh kế bền vững có nguồn gốc từ các nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nổi bật nhất là các phân tích của nhà kinh tế học Ấn Độ Amartya Sen về các quyền trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo, cùng các nghiên cứu của Robert Chambers và một số nhà khoa học khác. Cùng với các mối quan tâm về tính hiệu quả của các hoạt động phát triển, các tiếp cận sinh kế bền vững đã được phát triển và làm hình thành những khung phân 14 (LUAN.nguyen TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nguyen tích khác nhau, được gọi là những cách tiếp cận sinh kế bền vững (Sustainble livelihood approaches - SLA) và được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu và thực hành phát triển [82, tr. Nhìn chung, các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới được tiếp cận dưới góc nhìn và mục tiêu phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo. Từ đó hình thành khái niệm sinh kế bền vững từ góc độ phân tích các nguồn vốn hay còn gọi là các nguồn lực sinh kế được sử dụng trong các nghiên cứu, dự án phát triển.
Những nghiên cứu sinh kế ở Việt Nam Sinh kế là hoạt động gắn liền sự tồn tại và phát triển của con người. Ở Việt Nam, thuật ngữ sinh kế được dùng với nhiều nghĩa tương đương như: tập quán mưu sinh, hoạt động kinh tế, văn hóa sản xuất. Những vấn đề liên quan đến sinh kế đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ và nhằm những mục tiêu khác nhau. Chúng tôi tóm lược các công trình theo những khuynh hướng nghiên cứu dưới đây: Sinh kế là một thành tố của văn hóa tộc người trong các nghiên cứu dân tộc học.
Sinh kế được hiểu là hoạt động kinh tế của các tộc người, luôn chiếm vị trí quan trọng bên cạnh những nghiên cứu về các dạng thức văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Ở mỗi nghiên cứu, các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của hoạt động kinh tế trong đời sống tộc người, nổi lên là vai trò của hoạt động trồng trọt. Công trình tập thể của Viện Dân tộc học [107] có thể được coi là nghiên cứu đầu tiên chi tiết về hầu hết các thành phần dân tộc. Đối với mỗi tộc người, hoạt động kinh tế được bàn đến đầu tiên, chỉ sau tộc danh, lịch sử tộc người, địa bàn phân bố.
Từ đó, thấy được vai trò quan trọng của hoạt động kinh tế, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của cộng đồng và hình thành các giá trị văn hóa khác. Công trình mang lại cái nhìn tổng quát cho tác giả về đặc điểm sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Qua đó, chúng tôi có những hiểu biết để bước đầu nhận diện sự khác biệt sinh kế theo tộc người, vùng miền. Tuy nhiên, các dân tộc trong nghiên cứu này được sắp xếp theo tiêu chí ngôn ngữ, do đó, tính khát quát về vùng cảnh quan cư trú chưa được thấy rõ.
Đặc biệt, sinh kế được tiếp cận là một mảng riêng trong bức tranh văn hóa 15 (LUAN.nguyen TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.