Đặt vấn đề Trong quá trình hình thành và phát triển từ năm 1961 thành lập Đoàn thăm dò dầu lửa, năm 1986 tấn dầu thô đầu tiên được thai khai tại mỏ Bạch Hổ, năm 2006 Tập đoàn dầu khí Việt Nam ra đời cho đến sự phát triển về khoa học công nghệ hiện nay, ngành dầu khí luôn đóng góp vào phát triển kinh tế của nước nhà. Ngành công nghiệp này thể hiện là “ngành công nghiệp giữ vai trò đầu tàu kinh tế của đất nước đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn gian khổ, song mỗi bước đi lên đều ghi dấu bản lĩnh và khát vọng, đều để lại dấu ấn lịch sử đáng tự hào vì ngọn lửa dầu khí luôn được gìn giữ, lan truyền, tiếp nối qua từng thế hệ” [1]. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 và xung đột Nga - Ukraine tác động lớn đến nề kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong 5 tháng đầu năm 2023, tình hình đăng ký doanh nghiệp trên cả nước ghi nhận số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động là 80.691 và có đến 7349 doanh nghiệp giải thể [2].
Cũng trong năm tháng đầu năm 2023, ghi nhận chỉ số công nghiệp toàn ngành giảm 2% trong đó ngành khai khoáng ghi nhận giảm đến 3.5% so với cùng kỳ năm trước [2]. Ngành Dầu khí cũng chịu những ảnh hưởng nặng nề của tình hình chung. Bên cạnh những Doanh nghiệp (DN), Tổng Công ty làm ăn hiệu quả, vươn mình phát triển thì cũng tồn tại một số Doanh nghiệp, đơn vị không thích nghi được với sự phát triển chung, làm việc kém hiệu quả, dẫn đến các khó khăn về tài chính, làm giảm vốn chủ sở hữu, trong đó một số khác thậm chí dẫn đến phá sản, giải thể. “Theo nghiên cứu của báo năng lượng Việt Nam, ngày 15 tháng 10 năm 2018, ngành công nghiệp dầu khí gặp khó khăn xuất phát từ những nguyên nhân sau đây [3]: • Giá dầu thế giới giảm mạnh và kéo dài tiêu cực đã khiến cho cả ngành dầu khí thế giới lao đao, trong đó có Việt Nam.
Nhiều dự án thăm dò, khai thác phải dừng, giãn tiến độ khiến cả lĩnh vực dịch vụ cũng ảnh hưởng nặng nề. 2 • Cạnh tranh giữa các tập đoàn khai thác dầu khí, vận chuyển và dịch vụ. trên thế giới ngày một khốc liệt và các nước tăng cường bảo hộ cho doanh nghiệp trong nước. Những rủi ro này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới các lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò khai thác và dịch vụ kỹ thuật dầu khí của PVN.
• Một số vụ việc tiêu cực ở Tập đoàn và các đơn vị thành viên khiến nhiều cán bộ bị xử lý bằng pháp luật đã ảnh hưởng xấu đến thương hiệu, uy tín của PVN, tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của người lao động. • Bên cạnh đó là rất nhiều khó khăn do những cơ chế, chính sách, luật pháp chưa phù hợp, hoặc đã lạc hậu với sự phát triển của PVN trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. • Các cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho PVN thực hiện các mục tiêu chiến lược chưa được ban hành đầy đủ, kịp thời (Quy chế tài chính Công ty mẹ - Tập đoàn hiện vẫn chưa được ban hành). • Việc bảo lãnh vay vốn, thu xếp vốn cho các dự án đầu tư của PVN gặp nhiều khó khăn.
Ví dụ như: Dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, dự án Tổ hợp hóa dầu miền Nam không được bảo lãnh Chính phủ dẫn đến mất lợi thế khi huy động nguồn đầu tư nước ngoài, cũng như chính doanh nghiệp nước chủ nhà, do đó, PVN đã phải thoái toàn bộ vốn góp tại dự án này. • Việc xử lý các dự án đầu tư ở nước ngoài như Junin 2, SK 305… kéo dài và gặp nhiều khó khăn. • Công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí gặp nhiều khó khăn; tiềm năng dầu khí hạn chế, trữ lượng nhỏ, thuộc vùng nước sâu, xa bờ, hoặc có địa chất phức tạp, kết hợp với giá dầu giảm sâu nên công tác kêu gọi đầu tư gặp khó khăn. • Các đơn vị dịch vụ dầu khí hoạt động khó khăn do khối lượng công việc và giá dịch vụ giảm sâu từ 20 đến 70% cho từng loại dịch vụ.
3 • Các sản phẩm chủ lực của ngành dầu khí phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm nhập khẩu trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng. • Các dự án đơn vị yếu kém (xơ sợi Đình Vũ, nhiên liệu sinh học, đóng tàu Dung Quất) chưa xử lý được triệt để, cũng là do những cơ chế cũ không còn phù hợp” Qua việc nhận định những nguyên nhân trên, vấn đề quản lý rủi ro trong ngành dầu khí được xem là ưu tiên quan trọng sống còn trong việc ổn định và phát triển doanh nghiệp. Để quản lý rủi ro đạt được kết quả, doanh nghiệp cần phải có những hoạch định và chiến lược rõ ràng, trong đó cần phải xác định được những rủi ro phải đối mặt, đặc biệt là xem xét kỹ lưỡng những rủi ro trọng yếu có thể dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống doanh nghiệp. Ngay khi triển khai thực hiện chiến lược kinh doanh đã lựa chọn cũng như đưa ra các giải pháp giải quyết rủi ro tối ưu nhất để quản lý những rủi ro này.
Xác định vấn đề nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu - Nhận dạng các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến dự án dầu khí tại Việt Nam trong quá trình xây dựng. - Xác định mối quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa các yếu tố rủi ro trên và ước lượng xác suất có điều kiện của các mối quan hệ giữa chúng dựa trên ý kiến của các chuyên gia. - Xây dựng mô hình BNNs xác định mức độ chậm trễ tiến độ dự án dầu khí.
- Áp dụng mô hình vào một dự án dầu khí thực tế. Đối tượng nghiên cứu Các đối tượng khảo sát gồm những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án các dự án dầu khí tại Việt Nam: + Chủ đầu tư. + Ban quản lý dự án. + Đơn vị tư vấn 4 + Các nhà thầu thi công 1.
Phạm vi nghiên cứu Dữ liệu được lấy, khảo sát tại các dự án xây dựng công trình dầu khí ở Việt Nam. Đóng góp của Luận văn 1. Về mặt thực tiễn Nghiên cứu giúp các bên tham gia thực hiện dự án dầu khí tại Việt Nam biết được tình trạng mức độ chậm trễ tiến độ dự án nhằm đưa ra những giải pháp kịp thời để biện pháp xử lý rủi ro đến mức tối thiểu. Đồng thời đây cũng là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho việc lên kế hoạch dự án với cả các chỉ tiêu về thời gian, chi phí và chất lượng.
Mặt khác nghiên cứu giúp các nhà quản lý có thể giảm thiểu những thất thoát cũng như đưa dự án đến với thành công. Về mặt học thuật Các đóng góp về mặt học thuật của nghiên cứu được thể hiện như sau: + Xác định những yếu tố rủi ro quan trọng nhất ảnh hưởng đến dự án dầu khí tại Việt Nam trong giai đoạn thi công và xếp hạng giảm dần theo xác suất xảy ra của các rủi ro. + Xác định được mối quan hệ cũng như sự tương tác giữa các yếu tố rủi ro trên. Đồng thời cũng xác định được các yêu tố rủi ro nào tác động trực tiếp và gián tiếp đến dự án.
+ Mô hình BNNs được thiết lập xác định tình trạng mức độ trễ tiến độ của dự án. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Tóm tắt chương 2 Chương 2 sẽ trình bày những vấn đề sau: Các khái niệm và định nghĩa: + Rủi ro, các công cụ để nhận diện và đánh giá rủi ro trong các dự án dầu khí. + Lý thuyết về mạng tin cậy Bayes.
+ Cấu trúc BBNs. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: + Các nghiên cứu đánh giá rủi ro vào các dự án dầu khí. + Các nghiên cứu Đánh giá rủi ro áp dụng mạng Bayes. Các khái niệm và định nghĩa 2.
Định nghĩa rủi ro Cho đến nay, khái niệm về rủi ro vẫn chưa có thống nhất, các tác giả và học giả khác nhau có những nhận định những định nghĩa về rủi ro cũng khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, trong đó một số định nghĩa được sử dụng rộng rãi nhất như sau: Theo từ điển tiếng Việt năm 2003: “Rủi ro được định nghĩa là điều không lành, không tốt bất ngời xảy đến” [4]. Theo iso 9000:2015: “Rủi ro được định nghĩa là tác động của sự không chắc chắn” [5]. Theo tài liệu hướng dẫn của Cục phòng, chống rửa tiền: “Rủi ro có thể được định nghĩa là sự kết hợp giữa xác suất xảy ra một sự kiện và hậu quả của nó.
Nói một cách đơn giản, rủi ro có thể được coi là sự kết hợp của khả năng một việc gì đó xảy ra và mức độ thiệt hại hoặc tổn thất bị kéo theo nếu việc đó xảy ra” [6]. Trường phái truyền thống: “Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.
Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của 6 doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các rủi ro liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”. Trường phái hiện đại: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội.
Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai”. Tính chất của sự kiện rủi ro Rủi ro tổng quát thì có tính chất sau: - Phụ thuộc vào mức độ: Khi giá trị thu được/ lợi ích càng lớn thì càng nhiều rủi ro có thể được chấp nhận. - Mọi người nhìn nhận rủi ro khác nhau, và có mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau.