phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu liên quan ở nước ngoài Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai đào tạo gắn với thực tiễn nghề nghiệp của ngƣời học, cụ thể là đào tạo theo hƣớng tiếp cận năng lực thực hiện (competency based - approach) đã đƣợc tiến hành từ rất sớm ở một số nƣớc nhƣ: Hoa Kỳ, Anh, Pháp,….
Dần dần, do có ƣu điểm nhất định nên phƣơng thức đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện đƣợc vận dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới [60], [61]. Golomstoc đã đƣa ra những nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực nghề nghiệp cho ngƣời học. Ông không sử dụng thuật ngữ “năng lực” mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con ngƣời với hoạt động nghề nghiệp. Đặc biệt, ông chú trọng đến mặt tình cảm của quá trình “thích hợp nghề nghiệp” và coi đó nhƣ một thuộc tính của nhân cách.
Ông phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sự thích ứng nhƣ là quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới, đồng thời nêu ra lý thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm Tâm lý học hiện đại. Tuy nhiên, ông vẫn chƣa làm rõ đƣợc bản chất của quá trình thích ứng nghề và chƣa gắn với một nghề cụ thể nào [18]. Năm 1983, Viện Hàn Lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ đã có một báo cáo đề cập đến việc các hội nghiên cứu, các chủ doanh nghiệp yêu cầu là cần phải nghiên cứu và thay đổi về giáo dục đào tạo, trong đó chƣơng trình đào tạo phải dựa trên năng lực thực hiện hơn là dựa theo thời gian đào tạo. Năm 1984, nghiên cứu của nhà giáo dục học Spickler và một số nhà giáo dục học Bắc Mỹ về việc “khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc đại học” cho thấy: phải gắn SV vào quá trình học tập tích cực; làm cho SV có 8 trách nhiệm học và lựa chọn tiến hành thí nghiệm một cách hứng thú; đòi hỏi SV phải áp dụng nhiều kĩ năng xử lý thí nghiệm bao quát hơn, đáp ứng đƣợc yêu cầu SV tự nghiên cứu, tự học, tự phát triển tƣ duy và phát huy tính sáng tạo [82].
Savickas đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nghề và thích ứng nghề. Trong các nghiên cứu của mình, đặc biệt trong bài viết “Measuring career development: Current status and future directions”, tác giả đã đánh giá rất cao vai trò của thích ứng nghề, coi đó là “Sự trưởng thành về nghề nghiệp”, thậm chí “Sự thích ứng nghề còn có giá trị hơn cả sự trưởng thành về nghề nghiệp”. Ông cho rằng thích ứng nghề biểu hiện ở sự sẵn sàng đối mặt với tất cả những nhiệm vụ có thể gặp trong quá trình thực hành nghề, là sự tham gia vào những vị trí nghề nghiệp khác nhau, sự điều chỉnh sao cho phù hợp để đáp ứng đƣợc những thay đổi và điều kiện làm việc [79], [80], [81]. Ở nhiều nƣớc châu Á nhƣ Singapore, Ấn Độ, Philippin, Brunei, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản,.
phƣơng thức đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện cũng đã và đang đƣợc vận dụng ở các mức độ khác nhau. Các bộ chƣơng trình kế hoạch đào tạo nghề dựa trên năng lực đƣợc thực hiện cho các trƣờng chuyên nghiệp, nhất là các trƣờng kĩ thuật, đã đƣợc soạn thảo và sử dụng có kết quả trong một vài năm trở lại đây. Nhìn một cách khái quát, có thể nhận thấy điểm nổi bật của các chƣơng trình này là đào tạo nhằm mục đích hình thành các kiến thức và kĩ năng để ngƣời học có thể thực hiện đƣợc và vận dụng ngay vào thực tiễn [60]. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công trình bàn về vấn đề dạy học Thống kê, trong đó bao gồm vấn đề dạy học Thống kê ở các trƣờng đại học đào tạo nghề, điển hình nhƣ: - M.Artaud với Luận án tiến sĩ “La mathématisation en économie comme problème didactique - Une étude exploratoire” đã thực hiện phân tích 9 lịch sử Toán học và Kinh tế học để chỉ ra rằng việc tạo ra các tri thức kinh tế thƣờng gắn liền với những cuộc điều tra toán học, sau đó là công bố các kết quả điều tra [85].
Nghiên cứu cho thấy quan hệ mật thiết giữa Kinh tế học với Thống kê, đặc biệt là với lý thuyết Xác suất Thống kê. Từ ghi nhận này, tác giả xem xét lại công tác đào tạo ở các trƣờng đại học kinh tế ở Pháp, xét từ góc nhìn của lý thuyết Chuyển hóa sư phạm. Công trình của M.Artaud nhấn mạnh việc thiết lập quan hệ giữa Xác suất với Thống kê trong đào tạo ngành kinh tế. - Susan Miles với bài báo “Statistics teaching in medical school: Opinions of practising doctors”, đã điều tra quan điểm của bác sĩ lâm sàng và cho ta thấy có rất ít bác sĩ sử dụng đƣợc những kiến thức và kĩ năng thống kê mà họ đã đƣợc học ở bậc đại học [83].
Hơn nữa, nhu cầu đào tạo Thống kê cho bác sĩ đã thay đổi do những tiến bộ trong công nghệ thông tin và sự gia tăng tầm quan trọng của phƣơng pháp y học dựa trên chứng cứ. Từ đó tác giả khuyến cáo phải cải tiến phƣơng pháp dạy học cho tƣơng lai. Khái quát các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề dạy học Thống kê theo hƣớng gắn với thực tiễn nghề nghiệp cho thấy đào tạo theo hƣớng gắn với thực tiễn nghề nghiệp là một xu hƣớng đƣợc nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và đã ứng dụng vào quá trình dạy học ở các trƣờng đại học, chuyên nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà lý thuyết này đƣợc thay đổi cho phù hợp.
Các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc dạy học theo hƣớng hình thành một số kĩ năng giúp cho ngƣời học có sự chủ động cũng nhƣ khả năng thích ứng đối với công việc trong tƣơng lai của mình. Các nghiên cứu liên quan ở trong nước Ở Việt Nam, việc dạy học gắn với thực tiễn nghề nghiệp cũng đã đƣợc quan tâm triển khai áp dụng đối với các bậc học khác nhau. Tuy nhiên, phải 10 đến những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, mới có một số công trình nghiên cứu một cách bài bản về việc đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngƣời học. Các tác giả đã giới thiệu một số phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhƣ: dạy học theo dự án, dạy học theo góc, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật 6 chiếc mũ tƣ duy,.
nhằm tích cực hóa hoạt động của ngƣời học. Vấn đề dạy học ở bậc Đại học theo hƣớng gắn với thực tiễn nghề nghiệp đã đƣợc đề cập trong các nghiên cứu về đổi mới phƣơng pháp giảng dạy ở nƣớc ta, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu dƣới đây. Luận án “Rèn luyện kĩ năng dạy học Toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học ở các trường Cao đẳng sư phạm” của tác giả Phạm Văn Cƣờng đã đƣa ra các vấn đề liên quan đến phát triển năng lực nghề nghiệp đối với SV ngành Giáo dục Tiểu học, xây dựng chuẩn kĩ năng dạy Toán cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất đƣợc sáu nhóm biện pháp (trong đó có các biện pháp cụ thể) thực hiện rèn luyện kĩ năng dạy học cho SV ngành Giáo dục Tiểu học [10].
Tác giả Nguyễn Chiến Thắng trong luận án “Các biện pháp rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành sư phạm Toán thông qua việc dạy học Toán sơ cấp và phương pháp dạy học Toán ở trường đại học” đã làm rõ một số kĩ năng nghề nghiệp của sinh viên ngành sƣ phạm Toán và nêu ra những định hƣớng rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành sƣ phạm Toán [49]. Qua đó, tác giả đã đề xuất đƣợc sáu biện pháp rèn luyện kĩ năng nghề cho SV ngành Toán thông qua việc dạy học Toán sơ cấp và phƣơng pháp dạy học, bao gồm: Chú trọng các seminar khoa học vận dụng hình thức thảo luận nhóm khi dạy học các Toán sơ cấp và phƣơng pháp dạy học Toán nhằm tăng cƣờng vai trò chủ động cho SV trong học tập; Tổ chức cho SV tìm hiểu, phân tích chƣơng trình, nội dung của sách giáo khoa Toán 11 để nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Toán ở trƣờng phổ thông sau này; Tăng cƣờng giúp SV tiếp cận các phƣơng tiện dạy học hiện đại, đặc biệt là học cách sử dụng khai thác các phần mềm tin học, nhằm hỗ trợ dạy học hiệu quả Toán ở trƣờng phổ thông; Khai thác triệt để các tình huống trong dạy học Toán ở trƣờng phổ thông nhằm giúp SV hiểu và nắm đƣợc đặc trƣng của các phƣơng pháp dạy học tích cực, đặc biệt là phƣơng pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, đồng thời tập dƣợt cho họ bƣớc đầu áp dụng vào một số nội dung cụ thể trong chƣơng trình Toán phổ thông hiện hành; Chú trọng khai thác mối liên hệ giữa kiến thức Toán cao cấp với kiến thức Toán phổ thông, tập dƣợt khả năng chuyển tải tri thức khoa học sang tri thức phổ thông và tri thức phƣơng pháp và biện pháp rèn luyện cho SV kĩ năng biến đổi thông tin nhằm giải quyết các bài toán toán học. Trong luận án của tác giả Đỗ Thị Trinh: “Phát triển năng lực dạy học Toán cho sinh viên các trường Sư phạm”, tác giả đã đƣa ra quan niệm về năng lực, năng lực dạy học và năng lực dạy học Toán cần phát triển cho sinh viên sƣ phạm [62]. Từ đó tác giả đã đề ra đƣợc 3 nhóm giải pháp với 7 biện pháp góp phần phát triển năng lực dạy học Toán cho SV các trƣờng sƣ phạm.
Trong luận án “Tổ chức dạy học theo dự án học phần phương pháp dạy học môn Toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa Toán”, tác giả Trần Việt Cƣờng lại đề cập đến vấn đề phát triển năng lực dạy học cho SV Toán thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học theo dự án [11]. Tác giả Cao Thị Thặng đã có một số nghiên cứu cụ thể về các phƣơng pháp dạy học tích cực nhƣ “dạy học theo góc”, “dạy học theo hợp đồng” nhằm phát triển năng lực cho ngƣời học [50], [51].