Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Dạy học hát Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc (mã số: 9140111), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Tịnh Uyên dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đăng Nghị tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Âm nhạc dân gian giữ vai trò là nền tảng hình thành và phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp, đồng thời là phương tiện bảo lưu các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc và giáo dục nhân cách người học. Trong kho tàng âm nhạc truyền thống xứ Huế, bên cạnh Nhã nhạc cung đình và Ca Huế thính phòng, Lý Huế là sản phẩm nghệ thuật dân gian phản ánh đời sống tinh thần và tâm tư tình cảm của cộng đồng bản địa. Tuy nhiên, trước các biến đổi về lịch sử, xã hội và môi trường sống đương đại, thể loại Lý Huế đang đứng trước nguy cơ mai một và phai nhạt dần.

Việc đưa các bài Lý Huế vào môi trường giáo dục chuyên nghiệp được tác giả xác định là giải pháp bảo tồn và phát huy di sản. Tại Học viện Âm nhạc Huế, môn Dân ca Việt Nam đã đưa một số bài Lý Huế vào giảng dạy cho học sinh hệ trung cấp và sinh viên sư phạm. Dẫu vậy, hiệu quả tiếp thu và thực hành của học sinh vẫn chưa đạt mức tối ưu do nhiều rào cản về chương trình, phương pháp và tài liệu giảng dạy. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu: xây dựng một hệ thống biện pháp sư phạm bài bản, có cơ sở khoa học và tiếp cận theo hướng phát triển năng lực người học để dạy hát Lý Huế cho đối tượng học sinh trung cấp âm nhạc chuyên nghiệp.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trang bị kiến thức và đề xuất các biện pháp dạy học hát Lý Huế nhằm nâng cao chất lượng dạy học dân ca cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế; qua đó đào tạo lực lượng ca sĩ, nhạc công, nhạc sĩ tương lai có năng lực biểu diễn, nghiên cứu, truyền dạy, góp phần gìn giữ di sản âm nhạc dân tộc.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu hệ thống bài bản và các yếu tố môi trường, không gian diễn xướng liên quan đến nội dung của Lý Huế.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận về việc dạy học Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học hát dân ca và dạy học hát Lý Huế trên các phương diện: chương trình, tài liệu, năng lực của giảng viên và khả năng của học sinh tại Học viện Âm nhạc Huế.
  4. Nghiên cứu tính tương thích, sự phù hợp và dung lượng của việc đưa các bài Lý Huế vào chương trình đào tạo.
  5. Đề xuất và triển khai các biện pháp dạy học cùng quy trình thực nghiệm sư phạm dạy học hát Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại cơ sở đào tạo.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Văn bản luận án xác lập 5 câu hỏi nghiên cứu đánh số như sau:

  1. Tại sao phải dạy học hát Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế?
  2. Lý Huế có những đặc điểm gì?
  3. Thực trạng dạy học Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế như thế nào?
  4. Dạy học Lý Huế là dạy những gì, có giống với việc dạy các bài dân ca ở các vùng miền khác?
  5. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế?

Giả thuyết nghiên cứu của đề tài được phát biểu: Dạy học Lý Huế là để giúp học sinh hệ trung cấp âm nhạc hiểu được và hát tốt hơn về các bài Lý Huế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp dạy học hát các bài Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về tư liệu: Luận án khảo sát hệ thống bài bản Lý Huế từ các công trình đã công bố, tập trung vào 29 bài trong công trình của Dương Bích Hà.
    • Về nội dung thực nghiệm sư phạm: Chọn lọc 5 bài tiêu biểu gồm Lý hoài nam, Lý ngựa ô, Lý con sáo, Lý vọng phu và Lý tử vi để giảng dạy cho học sinh trung cấp âm nhạc năm thứ 2 trong hai học kỳ chính khóa.
    • Về không gian: Địa bàn nghiên cứu và triển khai thực nghiệm được tiến hành tại Học viện Âm nhạc Huế.
    • Về thời gian: Quá trình nghiên cứu thu thập dữ liệu và khảo sát kéo dài trong 5 năm, từ năm 2016 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài theo ba nhóm hình thức công bố chính và các nghiên cứu về phương pháp dạy học âm nhạc.

Các công trình nghiên cứu về Lý và Lý Huế

Dạng công trình xuất bản thành sách

  • "Huế giữa chúng ta" (Lê Văn Hảo, Nxb Thuận Hóa, 1981): Tại chương 6 "Âm nhạc Huế", tác giả khảo sát dân ca xứ Huế, so sánh Hò với Lý; nhận định Hò mang tính phóng khoáng, lao động, trong khi Lý có giai điệu hoàn chỉnh, cố định, phản ánh nội tâm. Tác giả này cho rằng các điệu Lý Con sáo ở ba miền đều bắt nguồn từ Lý Con sáo Huế. Luận án chỉ ra công trình chủ yếu tiếp cận theo góc độ văn học, có sự nhầm lẫn giữa tính chất âm nhạc và cấu trúc âm nhạc.
  • "Dân ca người Việt (Thể loại và hình thức)" (Tú Ngọc, 1994): Phân chia dân ca người Việt theo chức năng xã hội và môi trường diễn xướng; xếp thể loại lý vào dạng hát giao duyên gắn với hội hè và dạng hát sinh hoạt gia đình mang tính ngụ ngôn, giáo dục con cái (Lý con chuột, Lý con mèo, Lý con cua); công trình chưa đi sâu vào Lý Huế.
  • "Tìm hiểu dân ca Việt Nam" (Phạm Phúc Minh, Nxb Âm nhạc, 1994): Định nghĩa dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, bắt nguồn từ lao động cách đây 4000-5000 năm; phân tích yếu tố cấu thành, đặc điểm gam - điệu thức, khúc thức và phân vùng dân ca. Thể loại lý và Lý Huế chỉ được đề cập rải rác, không tạo thành chuyên mục riêng.
  • "Lý Huế" (Dương Bích Hà, Viện Âm nhạc và Nxb Âm nhạc, 1997): Chuyên khảo gồm 5 phần, 8 chương. Tác giả dùng phương pháp tiếp cận địa - văn hóa, chứng minh Lý Huế bắt nguồn từ lối hát giao duyên của người Việt cổ và tiếp biến văn hóa với Chăm Pa cổ. Công trình đưa ra danh mục 29 điệu Lý Huế và biến thể, bác bỏ định nghĩa chữ "lý" là "làng" để khẳng định "lý" là hát; phân định rõ Lý Huế (dân gian) và Ca Huế (bác học thính phòng). Phụ lục sách ký âm 16 bài Lý Huế, tạo nguồn ngữ liệu cho luận án.
  • "Âm nhạc cổ truyền Việt Nam" (Nguyễn Thụy Loan, 2006): Khẳng định lý là thể loại dân ca đặc thù của người Việt với tính chất đa dạng về tiết tấu, giai điệu và luyến láy. Tác giả xác định dải Bình - Trị - Thiên là cực bắc của vùng phát triển thể lý; Lý Trị - Thiên khác biệt ở âm điệu, phương ngữ, tính trữ tình sâu lắng và tính bác học do thâm nhập ca nhạc thính phòng.
  • "Nhập môn Âm nhạc cổ truyền" (Hà Thị Hoa chủ biên, 2014): Trích dẫn nhận định của nhạc sĩ Tô Vũ về khúc thức hoàn chỉnh, cân đối của các điệu lý và sự xuất hiện của các biến âm mang âm hưởng Chăm hoặc thang năm âm bình quân; dẫn giải thuật ngữ "Lư/Lý ca" theo Hoàng Kiều.

Dạng bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí

  • "Lý - những khúc tâm tình của người Việt" (Lê Văn Hảo, Tạp chí Âm nhạc, 1981): Khái quát diện mạo điệu Lý Con sáo ở các vùng miền (Trung du: 3 bài; Bắc: 3 bài; Thanh Hóa: 1 bài; Quảng: 2 bài; Nam: 5 bài), nhấn mạnh ảnh hưởng của Lý Con sáo Huế ra các địa phương.
  • "Trở lại bài dân ca 'Lý hoài xuân'" (Minh Phương, Tạp chí Sông Hương, 1990): Phân tích âm nhạc và lời ca để kết luận Lý Hoài xuân và Lý Con sáo là hai làn điệu độc lập, đồng thời nêu giả định Lý Con sáo có thể phát sinh từ phía Bắc vào.
  • "Tản mạn quanh những điệu Lý" (Tô Vũ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1995): Phân tích từ nguyên "Lý ca" trong tiếng Hán, xác định lý là hình thức ca khúc dân gian truyền khẩu, có tính đa năng, đa dạng; chỉ rõ tính chất lý miền Trung phần lớn khắc khoải, mang nỗi buồn man mác.
  • "Giả định về nguồn gốc xuất xứ thể 'Lý' trong dân ca Việt Nam" (Dương Bích Hà, Tạp chí Sông Hương, 1996): Đưa ra luận điểm vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân là quê hương ra đời của thể lý, giải thích sự biến đổi dân ca qua quá trình di dân Đàng Ngoài vào phương Nam.
  • "Kết cấu thể thức âm nhạc trong Lý Huế" (Dương Bích Hà, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1997): Phân tích quan hệ giữa âm nhạc và lời ca thể lục bát, cấu trúc thể một đoạn hai vế trống - mái, vai trò của tiếng đệm và tiếng láy trong việc định hình khúc thức bài lý.
  • "Yếu tố dân gian và bác học trong Lý Huế" (Vĩnh Phúc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1999): Xác định Lý Huế đã hòa nhập vào môi trường Ca Huế thính phòng chuyên nghiệp; số lượng bài bản không vượt quá 18 làn điệu; phân tích hai mặt dân gian (tên gọi, cấu trúc hai vế, hư từ) và bác học (lời ca tao nhã, thang âm Nam hơi ai).

Dạng công trình văn bản âm nhạc

  • "Dân ca Việt Nam" (Tô Ngọc Thanh, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Văn Dị tuyển chọn, Nxb Âm nhạc, 2001): Tuyển tập 256 bài dân ca, trong đó vùng Bình Trị Thiên có 19 bài (9 bài lý, bao gồm 6 bài Lý Huế ký âm).
  • "Lý trong dân ca người Việt" (Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Lê Anh Trung, Nxb Trẻ, 2006): Công trình dày 730 trang, sưu tầm 556 bài lý và 35 bài nguồn gốc từ lý. Trong đó, địa bàn Thừa Thiên Huế có 32 bài lý thuộc các điệu khác nhau, cung cấp tư liệu đối sánh âm nhạc học.
Tác giả / Nhóm tác giả Năm công bố Tên công trình Số lượng bài bản Lý Huế ghi nhận
Dương Bích Hà 1997 Lý Huế 29 bài (và các biến thể; ký âm 16 bài)
Vĩnh Phúc 1999 Yếu tố dân gian và bác học trong Lý Huế Không vượt quá 18 làn điệu
Tô Ngọc Thanh, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Văn Dị 2001 Dân ca Việt Nam 6 bài (trong cụm 9 bài lý Bình Trị Thiên)
Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Lê Anh Trung 2006 Lý trong dân ca người Việt 32 bài

Các nghiên cứu về dạy học dân ca và dạy học Lý Huế

  • Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Lan (2018): Nghiên cứu dạy hát Chèo và Quan họ cho sinh viên đại học sư phạm âm nhạc, phân tích kỹ thuật khẩu hình mở ngang, điều tiết hơi thở bụng và phát âm nhả chữ.
  • Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Bùi Thị Thủy (dân ca lớp 6 Đan Phượng), Nguyễn Thị Chang (chèo Tàu, hát Dô An Khánh), Hoàng Thị Thanh Thủy (dân ca Tây Nguyên), Phạm Quỳnh Trang (hò sông Mã), Trần Văn Quang (dân ca Thái Sơn La)... Các công trình tập trung vào việc đưa dân ca vào các trường phổ thông và cao đẳng địa phương.
  • Nghiên cứu về dạy học Lý Huế: Luận văn thạc sĩ của chính tác giả Nguyễn Hoàng Tịnh Uyên (2014) về đưa Lý Huế vào hoạt động ngoại khóa tại Trường THCS Tứ Hạ (chọn 10 bài, dạy theo lối truyền khẩu nghe - hát lại); tài liệu học phần môn Dân ca Việt Nam tại Học viện Âm nhạc Huế do Dương Bích Hà biên soạn (giảm từ 9 xuống 4 đơn vị học trình, tập trung phân tích âm nhạc học ba miền, thiếu quy trình phương pháp sư phạm).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Chưa có công trình nào nghiên cứu việc dạy học hát Lý Huế cho học sinh hệ trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế. Luận án khắc phục hạn chế của phương pháp truyền khẩu giản đơn, xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm thanh nhạc truyền thống gắn với định hướng phát triển năng lực người học trong cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án xác lập nội hàm các khái niệm học thuật làm công cụ phân tích:

  • Dân ca: Bài hát do tập thể sáng tác trong bối cảnh cụ thể của một địa phương, lưu truyền qua đường truyền miệng, được gọt dũa qua thời gian, mang nhiều dị bản và phản ánh tâm tư, tình cảm của cộng đồng.
  • Lý Huế: Thể loại nhạc hát dân gian của người Việt tại Huế; cấu trúc ngắn gọn, thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc, mang đặc trưng riêng biệt về phương ngữ, tuyến giai điệu, thang âm và hình thức diễn xướng.
  • Thang âm và Điệu thức: Thang âm là trật tự sắp xếp các âm thanh có trong tác phẩm từ thấp đến cao quy định trong phạm vi một quãng tám. Điệu thức là hệ thống mối tương quan giữa âm ổn định và âm không ổn định nhằm biểu hiện tính chất, màu sắc âm nhạc. Luận án phân tích Lý Huế trên cơ sở các điệu thức cổ truyền dân tộc (đặc biệt là điệu Nam, hơi Ai).
  • Dạy học hát Lý Huế: Quá trình tương tác có phương pháp giữa người dạy và người học, chuyển từ lối truyền khẩu thụ động sang phương pháp dạy học tích cực, phát triển năng lực cảm thụ, xử lý kỹ thuật thanh nhạc và biểu diễn bài bản cổ truyền.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân loại, đánh giá các công trình âm nhạc học, văn hóa dân gian và lý luận dạy học để xây dựng cơ sở lý luận.
  2. Phương pháp âm nhạc học: Phân tích giai điệu, tiết tấu, cấu trúc khúc thức, thang âm, điệu thức và mối quan hệ giữa thanh điệu tiếng Huế với đường nét âm nhạc.
  3. Phương pháp điều tra điền dã: Quan sát hoạt động biểu diễn của nghệ nhân; phỏng vấn giảng viên, học sinh về nhận thức, thái độ đối với Lý Huế; tham vấn ý kiến chuyên gia âm nhạc truyền thống.
  4. Phương pháp so sánh: Đối sánh chương trình, nội dung và phương thức dạy dân ca giữa Học viện Âm nhạc Huế với các cơ sở đào tạo khác; so sánh dị bản bài hát giữa các vùng miền.
  5. Phương pháp dạy học: Vận dụng các nguyên tắc sư phạm âm nhạc, kết hợp phương pháp truyền thống (thị phạm, truyền khẩu) với phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.
  6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức giảng dạy thực nghiệm 5 bài Lý Huế trên nhóm học sinh trung cấp âm nhạc năm thứ 2 tại Học viện Âm nhạc Huế.
  7. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý các dữ liệu khảo sát thực trạng và kết quả kiểm tra trước, sau thực nghiệm để đo lường tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn tư liệu văn bản: 29 bài bản Lý Huế trong công trình của Dương Bích Hà; hệ thống bài bản trong công trình của Lư Nhất Vũ; bản ghi âm của Viện Âm nhạc; chương trình đào tạo và tài liệu môn Dân ca Việt Nam của Học viện Âm nhạc Huế.
  • Nguồn dữ liệu thực tế: Phiếu khảo sát thực trạng giảng viên và học sinh; biên bản phỏng vấn nghệ nhân; bảng điểm đánh giá thực nghiệm sư phạm tại cơ sở đào tạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Chương 1 tổng thuật các nghiên cứu về Lý và Lý Huế trên ba phương diện: sách chuyên khảo, bài báo khoa học và công trình văn bản âm nhạc ký âm; đồng thời đánh giá tình hình dạy học dân ca và dạy học Lý Huế.

Tác giả rút ra 5 luận điểm khái quát:

  1. Lý là thể loại âm nhạc dân gian của tộc người Việt, không phải câu hát quê mùa hay đơn vị hành chính làng xã.
  2. Cấu trúc bài lý ngắn gọn, dễ nhớ, hoàn chỉnh; lời ca dựa trên thơ lục bát hoặc biến thể.
  3. Lý không gắn chặt với không gian lao động đặc thù mà có thể diễn xướng linh hoạt theo tâm tư người hát.
  4. Nhiều bài lý trùng tên nhưng khác nhau về làn điệu và tính chất giữa các vùng miền.
  5. Lý Huế mang tính chất nội tâm, trữ tình sâu lắng; giai điệu uyển chuyển và tiết tấu phức tạp hơn lý Nam Bộ do ảnh hưởng của ngữ điệu bản địa; khó phân định rạch ròi giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học thính phòng.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực trạng dạy học hát dân ca, dạy học hát Lý Huế

Chương này xác lập các khái niệm công cụ (dân ca, Lý Huế, thang âm, điệu thức, phương pháp dạy học); khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn dân ca trong thời kỳ hội nhập qua con đường giáo dục chuyên nghiệp.

Về mặt thực trạng tại Học viện Âm nhạc Huế:

  • Môn Dân ca Việt Nam là môn học bắt buộc đối với học sinh trung cấp âm nhạc, nhưng thời lượng bị rút gọn từ 9 đơn vị học trình xuống còn 4 đơn vị học trình, gây khó khăn cho việc rèn luyện thực hành chuyên sâu.
  • Tài liệu học phần chủ yếu tập trung vào việc phân tích cấu trúc âm nhạc ba miền dưới góc độ âm nhạc học, thiếu quy trình hướng dẫn sư phạm thanh nhạc dân gian.
  • Khảo sát giảng viên và học sinh cho thấy phương pháp dạy học vẫn phụ thuộc vào lối truyền khẩu đơn thuần (giảng viên hát mẫu từng câu, học sinh nhắc lại). Học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc mở khẩu hình, kiểm soát hơi thở, luyến láy và phát âm đúng ngữ âm phương ngữ Huế.

Chương 3: Đặc điểm của Lý Huế

Chương 3 khảo sát Lý Huế trong không gian văn hóa Thừa Thiên Huế, làm rõ nguồn gốc, cấu trúc âm nhạc và thi pháp lời ca:

  • Nguồn gốc và không gian diễn xướng: Lý Huế hình thành trên nền tảng hát giao duyên của người Việt cổ di cư kết hợp tiếp biến văn hóa Chăm Pa. Thể loại này dần tách khỏi môi trường làng quê để thâm nhập vào sinh hoạt Ca Huế thính phòng cổ điển, tiếp thu các thủ pháp trau chuốt của giới ca nhi chuyên nghiệp.
  • Hệ thống bài bản: Thống kê và chọn lọc trên hệ thống 29 bài bản đã được công bố, xác định tính dị bản và cách đặt tên theo nội dung, hai chữ đầu lời ca hoặc từ hư đệm.
  • Đặc điểm âm nhạc: Cấu trúc khúc thức phổ biến là thể một đoạn gồm hai vế trống - mái cân đối, khép kín. Thang âm mang màu sắc điệu Nam hơi Ai với các biến âm đặc thù, tuyến giai điệu lượn sóng mềm mại, âm vực vừa phải, chứa đựng nhiều nốt hoa mỹ, luyến láy vi tế.
  • Lời ca và nghệ thuật phổ thơ: Sử dụng ca dao lục bát, lục bát biến thể; kỹ thuật đưa hơi, đệm lót bằng hệ thống hư từ phong phú như a, ối, tình bằng, ơi người ơi, úy, óa, u xang u liu phàn, chi rứa. Ngữ điệu tiếng Huế (các dấu thanh hỏi, ngã, nặng) hòa quyện trực tiếp vào bước đi của giai điệu, tạo nên vẻ đẹp tao nhã tiệm cận văn chương bác học.

Chương 4: Các biện pháp dạy học hát Lý Huế

Chương 4 đề xuất giải pháp sư phạm và trình bày kết quả thực nghiệm:

  • Điều chỉnh nội dung chương trình: Cân đối thời lượng học phần, sắp xếp thời gian hợp lý cho việc giảng dạy các bài Lý Huế trong chương trình Dân ca Việt Nam hệ trung cấp năm thứ 2.
  • Phân tích âm nhạc học 5 bài tiêu biểu phục vụ dạy học:
    1. Lý hoài nam (Lý Chiều chiều): Cấu trúc hoàn chỉnh trên một cặp lục bát, mang tính chất trầm buồn, hơi Ai sâu lắng.
    2. Lý ngựa ô: Tiết tấu rộn rã, thể hiện kỹ thuật nẩy âm, ngắt chữ khỏe khoắn.
    3. Lý con sáo: Tính chất trữ tình mềm mại, yêu cầu kỹ thuật luyến láy chuyển giọng tinh tế.
    4. Lý vọng phu: Khúc thức ngắn gọn, thể hiện tâm trạng đợi chờ qua đường nét giai điệu u hoài.
    5. Lý tử vi (Lý Trăm huê): Phát triển trên hai cặp lục bát, giai điệu trau chuốt, thanh nhã.
  • Hệ thống biện pháp rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc dân gian:
    • Kỹ thuật hơi thở: Rèn luyện kỹ năng lấy hơi nhanh bằng mũi và miệng, nén hơi ở phần bụng trên, nhả hơi đều đặn, không tống hơi mạnh gây cứng câu hát.
    • Kỹ thuật khẩu hình và vị trí âm thanh: Hướng dẫn học sinh mở khẩu hình ngang, miệng chúm tự nhiên theo ngữ âm tiếng Huế, giữ vị trí âm thanh vang sáng phía trước vòm họng.
    • Kỹ thuật phát âm nhả chữ phương ngữ Huế: Luyện tập phát âm chuẩn xác các hư từ đặc thù (chi rứa, tình bằng), xử lý dấu thanh địa phương (thanh ngã thành thanh nặng/hỏi) ăn khớp với cao độ.
    • Kỹ thuật luyến láy: Rèn luyện các kỹ năng rung, nhấn, vuốt, nẩy âm cổ truyền.
  • Áp dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực: Kết hợp băng ghi âm của nghệ nhân với thị phạm của giảng viên; tổ chức cho học sinh thảo luận, so sánh đối chiếu giữa các bài lý; tạo cơ hội tự học, tự dàn dựng và hát tập thể kết hợp đơn ca.
  • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành trên học sinh trung cấp năm thứ 2 qua hai học kỳ. Kết quả kiểm tra được xử lý bằng thống kê toán học, khẳng định sự cải thiện rõ rệt của học sinh về khả năng nắm bắt phong cách, phát âm chuẩn xác và xử lý kỹ thuật hát Lý Huế so với trước thực nghiệm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học hát dân ca nói chung và dạy học hát Lý Huế nói riêng cho đối tượng học sinh trung cấp âm nhạc chuyên nghiệp.
  • Làm rõ tính chất hai mặt dân gian và bác học thính phòng trong cấu trúc âm nhạc, thi pháp lời ca của Lý Huế; xác định mối quan hệ hữu cơ giữa phương ngữ xứ Huế với đường nét giai điệu dân ca.
  • Xây dựng quy trình phương pháp dạy học hát dân ca theo định hướng phát triển năng lực, cung cấp tài liệu lý luận sư phạm có thể áp dụng cho các thể loại dân ca khác trong hệ thống đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp.

Đóng góp về thực tiễn

  • Là công trình nghiên cứu ứng dụng đầu tiên giải quyết bài toán truyền dạy và bảo tồn Lý Huế trong một cơ sở đào tạo chuyên nghiệp cụ thể (Học viện Âm nhạc Huế).
  • Cung cấp giáo án, phân tích âm nhạc học và phương pháp rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc dân gian cho 5 bài Lý Huế tiêu biểu (Lý hoài nam, Lý ngựa ô, Lý con sáo, Lý vọng phu, Lý tử vi).
  • Đưa ra tư liệu tham khảo phục vụ giảng viên thanh nhạc, giáo viên âm nhạc phổ thông và các nhà quản lý văn hóa trong công tác xây dựng chương trình giảng dạy nghệ thuật truyền thống.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề nghị Học viện Âm nhạc Huế xem xét điều chỉnh thời lượng môn Dân ca Việt Nam, cân đối tỷ lệ giữa lý thuyết phân tích và thực hành rèn luyện kỹ thuật hát cổ truyền.
  • Tăng cường cơ sở vật chất, bổ sung kho tư liệu âm thanh các bản ghi âm nghệ nhân gốc; tổ chức các buổi giao lưu, học hỏi kinh nghiệm biểu diễn trực tiếp từ các nghệ nhân dân gian xứ Huế.
  • Bồi dưỡng nâng cao năng lực thị phạm dân ca cho đội ngũ giảng viên, khuyến khích giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Địa bàn và đối tượng thực nghiệm chỉ giới hạn ở phạm vi học sinh hệ trung cấp âm nhạc năm thứ 2 tại Học viện Âm nhạc Huế trong các giờ học chính khóa.
  • Do dung lượng chương trình đào tạo có hạn, số lượng bài bản được đưa vào phân tích chuyên sâu và triển khai thực nghiệm sư phạm dừng lại ở 5 bài tiêu biểu trong tổng số 29 bài bản Lý Huế được công bố.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và ứng dụng hệ thống biện pháp sư phạm cho các đối tượng khác như sinh viên đại học sư phạm âm nhạc, sinh viên thanh nhạc chuyên nghiệp hoặc học sinh các trường phổ thông.
  • Tiếp tục sưu tầm, khảo sát và đưa thêm các làn điệu Lý Huế ít phổ biến vào danh mục giảng dạy nhằm làm phong phú kho tàng thực hành biểu diễn dân gian cho người học.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng sau:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc: Tham khảo khung lý thuyết dạy học phát triển năng lực, phương pháp tích hợp kỹ thuật thanh nhạc truyền thống vào giảng dạy chính khóa và phương pháp thiết kế thực nghiệm sư phạm.
  • Học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp: Cung cấp tài liệu học tập chi tiết về cách mở khẩu hình, nhả chữ phương ngữ Huế, kỹ thuật rung, nhấn hơi Ai trong 5 bài Lý Huế tiêu biểu.
  • Các nhà quản lý đào tạo nghệ thuật và nghiên cứu văn hóa dân gian: Cung cấp cơ sở khoa học để thẩm định chương trình môn Dân ca Việt Nam, xây dựng kế hoạch bảo tồn các thể loại âm nhạc dân gian bản địa trong môi trường giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 3 (phân tích đặc trưng âm nhạc học, thang âm, điệu thức và lời ca Lý Huế) và Chương 4 (hệ thống biện pháp rèn luyện hơi thở, khẩu hình, phát âm và quy trình giảng dạy 5 bài lý).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn những bài Lý Huế cụ thể nào để đưa vào thực nghiệm dạy học và tiêu chí lựa chọn là gì?

Tác giả chọn 5 bài tiêu biểu gồm: Lý hoài nam, Lý ngựa ô, Lý con sáo, Lý vọng phu và Lý tử vi. Tiêu chí lựa chọn dựa trên tính đại diện về cấu trúc thể thức (thể một đoạn hai vế trống - mái, phát triển từ một hoặc hai cặp lục bát), sự đa dạng về tính chất âm nhạc (từ vui tươi, rộn rã như Lý ngựa ô đến trữ tình, u hoài như Lý hoài nam, Lý vọng phu) và tính phù hợp với năng lực kỹ thuật thanh nhạc của học sinh trung cấp năm thứ 2.

2. Sự khác biệt bản chất giữa Lý Huế và Ca Huế được luận án làm rõ như thế nào?

Dựa trên các nghiên cứu đi trước (Dương Bích Hà, Vĩnh Phúc), luận án khẳng định Lý Huế và Ca Huế là hai thể loại độc lập dù có sự thâm nhập qua lại. Lý thuộc thể loại âm nhạc dân gian của quần chúng lao động, có nguồn gốc từ lối hát giao duyên truyền miệng; trong khi Ca Huế là thể loại âm nhạc bác học, thính phòng cổ điển. Dù Lý Huế đã thâm nhập vào không gian Ca Huế thính phòng và được trau chuốt bằng kỹ thuật ca xướng chuyên nghiệp, nó vẫn lưu giữ cốt cách dân gian qua cấu trúc hai vế trống - mái, ca dao lục bát và hệ thống hư từ mộc mạc.

3. Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về số lượng bài bản Lý Huế giữa các công trình nghiên cứu đi trước là gì?

Sự chênh lệch số lượng (Dương Bích Hà ghi nhận 29 bài; Lư Nhất Vũ et al. ghi nhận 32 bài; Vĩnh Phúc nhận định không quá 18 làn điệu) xuất phát từ cách tiếp cận không gian văn hóa (xứ Huế thuần túy hay mở rộng ra vùng Bình - Trị - Thiên) và hiện tượng dị bản trong âm nhạc dân gian. Một làn điệu có thể mang nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc vào câu thơ đầu, tiếng đệm hoặc nội dung lời ca (ví dụ Lý Tình tang còn có tên là Lý Mười thương, Lý Bướm bay; Lý Hoài nam còn gọi là Lý Chiều chiều). Việc một số nhà nghiên cứu gộp cả các khúc ca thính phòng như Tương tư khúc, Hành vân vào thể lý cũng dẫn đến sự khác biệt về số liệu thống kê.

4. Những kỹ thuật thanh nhạc truyền thống nào được chú trọng rèn luyện khi dạy học hát Lý Huế?

Luận án tập trung rèn luyện 4 nhóm kỹ thuật cơ bản:

  • Kỹ thuật hơi thở: Lấy hơi nhanh, nén hơi ở phần bụng trên và điều tiết nhả hơi nhẹ, đều đặn để tránh làm cứng câu hát.
  • Kỹ thuật khẩu hình và vị trí âm thanh: Giữ khẩu hình mở ngang tự nhiên, phát âm mềm mại, hướng vị trí âm thanh vang sáng phía trước vòm họng.
  • Kỹ thuật phát âm nhả chữ phương ngữ Huế: Xử lý hệ thống hư từ (a, ối, tình bằng, chi rứa) và biến âm dấu thanh theo đúng ngữ điệu tiếng Huế.
  • Kỹ thuật luyến láy: Rèn luyện các kỹ năng rung, nhấn, vuốt, ngắt âm đặc trưng của thang âm Nam hơi Ai.

5. Thực trạng môn học Dân ca Việt Nam tại Học viện Âm nhạc Huế trước khi đề tài nghiên cứu gặp phải khó khăn gì?

Thực trạng ghi nhận thời lượng môn học bị cắt giảm từ 9 đơn vị học trình xuống 4 đơn vị học trình, làm giảm thời gian luyện tập thực hành của học sinh. Tài liệu giảng dạy chủ yếu tập trung vào phân tích âm nhạc học ba miền, thiếu tài liệu hướng dẫn kỹ năng phương pháp sư phạm thanh nhạc dân gian. Phương pháp dạy học phụ thuộc vào lối truyền khẩu giản đơn (nghe và nhắc lại), chưa phát huy được tính chủ động và năng lực tự học của học sinh.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Hoàng Tịnh Uyên là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, giải quyết bài toán nâng cao chất lượng dạy học hát Lý Huế cho học sinh trung cấp âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Huế. Trên cơ sở phân tích cấu trúc âm nhạc, thi pháp lời ca và đánh giá thực trạng đào tạo, tác giả đã xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm rèn luyện kỹ thuật thanh nhạc cổ truyền gắn với phương pháp dạy học phát triển năng lực qua 5 bài lý tiêu biểu. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi của các giải pháp, cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo chuyên nghiệp và góp phần bảo tồn di sản âm nhạc truyền thống xứ Huế trong môi trường giáo dục chính quy.