PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Trong chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn phổ thông hiện nay, bên cạnh các văn bản văn học, văn bản thông tin, học sinh (HS) còn được học một số văn bản nghị luận (VBNL). Tuy số lượng VBNL được học ở cả hai cấp Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) không nhiều, chỉ chiếm 12% tổng số văn bản được học trong CT nhưng các văn bản này đóng vai trò rất quan trọng đối với việc tăng cường hiểu biết, rèn luyện tư duy và rèn luyện kĩ năng diễn đạt của HS.
Trước hết, đề tài của VBNL trong CT, SGK đề cập nhiều vấn đề trọng đại của đất nước, nhân loại và những vấn đề gần gũi, có ý nghĩa với đời sống con người. Vì vậy, nếu việc dạy học đọc hiểu các VBNL đạt kết quả tốt, HS sẽ có được những hiểu biết sâu sắc về các vấn đề liên quan đến đất nước và con người, mở rộng tri thức về thế giới, từ đó xác định cho mình nhận thức đúng đắn về các các vấn đề của đời sống và có hành động tích cực trong việc phát hiện, giải quyết những vấn đề nảy sinh hằng ngày hằng giờ trong cuộc sống, góp phần hoàn thiện nhân cách của các em. Bên cạnh đó, VBNL trong CT đều là những áng văn tiêu biểu. Được tiếp cận với tác phẩm của những cây bút nghị luận tài hoa, bản lĩnh, có trái tim nhiệt huyết, HS sẽ có điều kiện học hỏi phương pháp lập luận, tư duy phê phán, năng lực sáng tạo và cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt gãy gọn quan điểm của mình, thuyết phục người đọc, người nghe tin tưởng và hành động theo quan điểm đó.
Tuy nhiên, trong thực tế, có thể thấy việc dạy và học VBNL vẫn chưa đạt được hiệu quả mong đợi. Thực trạng này một phần xuất phát từ phương pháp dạy học. Khảo sát thực tế dạy học đọc hiểu VBNL ở trường THPT hiện nay, chúng tôi nhận thấy GV khi dạy học vẫn thiên về trang bị kiến thức cho HS hơn là coi trọng việc tổ chức hoạt động để rèn kĩ năng đọc hiểu cho HS. Đặc biệt, giờ đọc hiểu VBNL mới chỉ dừng lại ở việc đọc hiểu các VB cụ thể trong SGK mà chưa giúp HS hình thành phương pháp đọc hiểu để đọc những VB cùng thể loại 5 nghị luận ngoài CT.
Phương pháp dạy học này đã khiến học sinh thụ động, thiếu sáng tạo, chưa có phương pháp tự học. Để nâng cao chất lượng dạy đọc hiểu VBNL ở trường trung học phổ thông, tạo những chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động cho HS, giúp HS có phương pháp tự học VBNL, cần đổi mới đổi mới mạnh mẽ PPDH, xây dựng một quy trình tổ chức giờ dạy học đọc hiểu VBNL phù hợp với đặc trưng thể loại và có tính khả thi, đồng thời chú trọng tổ chức những hoạt động học tập phù hợp ngoài giờ học, giúp HS có thêm điều kiện để hiểu VBNL được học trong CT, SGK và vận dụng những hiểu biết đó vào cuộc sống. Đây là những lí do, xuất phát từ nhu cầu thực tế của một giáo viên (GV) Ngữ văn, đã thúc đẩy chúng tôi chọn vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận ở trường THPT làm đề tài luận án của mình. Việc lựa chọn đề tài của chúng tôi cũng xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) nói chung và CT giáo dục Ngữ văn nói riêng nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của người học.
Cũng như nhiều lĩnh vực khác, trong giáo dục, “đổi mới, biến đổi, cách tân và cải cách giáo dục ở những mức độ khác nhau là trào lưu của thời đại mang tính toàn cầu” [28, tr. Ở Việt Nam, trước những đòi hỏi của từng thời kì lịch sử cụ thể, giáo dục cũng đã có những cải cách đáng kể, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng nhân lực phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục, sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia, giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (04/11/2013).
Nghị quyết xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. 6 Thực hiện Nghị quyết 29, Chính phủ đã trình Quốc hội Đề án đổi mới CT và SGK phổ thông với mục tiêu phát triển năng lực của người học.
Theo đó, CT và SGK sẽ chú ý phát huy trải nghiệm của HS, tạo điều kiện cho HS vận dụng những kiến thức học được để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hằng ngày của các em. Mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của HS đòi hỏi việc dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng phải mạnh dạn đổi mới để tạo ra những chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như hành động cho HS. Nghiên cứu việc dạy học đọc hiểu VBNL là một cách để thực hiện yêu cầu đổi mới việc dạy học Ngữ văn và đổi mới dạy học nói chung ở trường THPT. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.
Một số kết quả nghiên cứu ở nƣớc ngoài và trong nƣớc về đọc hiểu và đọc hiểu VBNL 2. Nghiên cứu ở nước ngoài về đọc hiểu và đọc hiểu VBNL Ở nước ngoài, khái niệm đọc hiểu đã được đề cập từ những năm 40 của thế kỉ XX. Theo các nhà nghiên cứu, mục đích của đọc là để hiểu và yêu cầu đối với việc đọc là phải hiểu, nhưng nội hàm của đọc hiểu là gì thì có nhiều ý kiến khác nhau. Có thể khái quát quan niệm về đọc hiểu của các tác giả từ việc giải đáp ba vấn đề sau: a) Vấn đề thứ nhất: Yêu cầu đối với hiểu chỉ là hiểu nghĩa sự kiện hay bao gồm cả việc hiểu nghĩa giữa các dòng chữ và ngoài các dòng chữ? William Grabe và Fredricka L.
Stoller trong cuốn Teaching and research reading (Giảng dạy và nghiên cứu về đọc) quan niệm “hiểu chỉ là hiểu nghĩa sự kiện”. Các tác giả viết: “Đọc hiểu có thể bao gồm sự hiểu biết và phục hồi các chi tiết, sự kiện, các ví dụ. Nhìn chung, các khía cạnh quan trọng nhất của đọc hiểu là hiểu ý tưởng chính” [155, tr. Ngược lại, Martha Rapp Ruđell trong cuốn Teaching content reading and writing (Nội dung dạy đọc và viết) đưa ra ba cấp độ của đọc hiểu như sau: Thứ nhất, hiểu nghĩa đen - cấp độ này có nguồn gốc từ “đọc trên dòng” (read the lines), đòi hỏi người đọc hiểu biết về ý tưởng được tuyên bố trực tiếp trong văn bản.
Thứ hai, hiểu nghệ thuật diễn đạt - cấp độ này có nguồn gốc từ “đọc giữa dòng” (read between the lines), người đọc phải hiểu được mối quan hệ giữa các 7 yếu tố văn bản không được nói trực tiếp. Thứ ba, hiểu ứng dụng - cấp độ này có nguồn gốc từ “đọc vượt dòng” (read beyond the lines), người đọc hiểu được các mối quan hệ mới giữa các thông tin trong văn bản và các thông tin trong sự hiểu biết từ trước [148, tr. Chúng tôi đồng tình với quan niệm của Martha Rapp Ruđell về đọc hiểu. Quan niệm này phản ánh đầy đủ những mục đích đọc khác nhau: có người đọc chỉ để tìm kiếm thông tin sự kiện (read the lines), nhưng cũng có người đọc còn để tìm hiểu quan điểm của tác giả hoặc để chia sẻ với những trải nghiệm sống của mình.
Và dù mục đích ban đầu có thể chỉ là tìm kiếm thông tin, nhưng trong quá trình đọc, người ta vẫn cảm nhận được những điều tác giả muốn gửi gắm đằng sau các dòng chữ. Cả VB hư cấu lẫn VBNL không chỉ có một ý nghĩa duy nhất mà giá trị của nó còn nằm ở phía độc giả khi đọc - kiến tạo ý nghĩa cho nó. Đọc văn có thể tạo ra một thế giới trong tâm trí chúng ta. Chúng ta có thể gặp các nhân vật hấp dẫn, có thể tham gia vào những tình huống thú vị, khám phá những ý tưởng mới và trải nghiệm về cảm xúc.
Chúng ta có thể xem và tự hỏi về những điều chưa quen, chưa được trải nghiệm. Chúng ta có thể khóc, cười và suy nghĩ. Giá trị văn bản văn học nằm ở chỗ nó giúp người đọc suy nghĩ hơn là những gì nó nói - nghĩa là “đọc vượt dòng” (read beyond the lines). Đấy mới là đọc hiểu.
Tóm lại, khi đọc một VB thì điều quan trọng không phải chỉ là hiểu những thông tin sự kiện mà tác giả cung cấp mà quan trọng hơn là người đọc phải hiểu được sâu xa, thậm chí là mới hơn những điều tác giả nói. Và như vậy, nội hàm khái niệm hiểu không chỉ giới hạn ở hiểu nghĩa sự kiện mà còn bao hàm cả hiểu nghĩa hàm ẩn giữa những dòng chữ và nghĩa ngoài trang sách. Trong giáo dục, quan niệm này sẽ không dẫn đến chỗ giới hạn nhiệm vụ dạy học đọc hiểu chỉ là hiểu thông tin sự kiện. b) Vấn đề thứ hai: Đọc hiểu chỉ có nghĩa là đọc và hiểu VB hay bao gồm cả đánh giá VB? Trong số những người quan niệm đọc hiểu chỉ là đọc và hiểu VB có các tác giả H.
Alan Robinson, Tony Buzan,William Grabe, Fredricka L. Alan Robinson trong bài viết Comprehension: an Elusive concept (Hiểu: một khái niệm khó nắm bắt) tại Hội thảo khoa học về việc đọc lần thứ 4 được tổ 8 chức ở Brisbane, Australia từ 25 đến 27/08/1978 1 đã nêu quan niệm: “Đọc hiểu là sự khác biệt giữa những gì ai đó biết về một chủ đề trước khi đọc và những gì họ sở hữu sau khi đọc. Thông tin hoặc ý tưởng này luôn được điều chế bởi người đọc” [152, tr. Tham luận này cho rằng khi người đọc có kiến thức nền, nhận thức của họ sẽ trở nên chắc chắn hơn, mặt khác việc đọc hiểu cũng phụ thuộc vào bản chất của diễn ngôn và thái độ người viết bởi vì khi ngôn ngữ viết xa lạ với ngôn ngữ người đọc, thì việc hiểu sẽ trở nên khó khăn hơn.