CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1. KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Theo các nhà kinh tế học: Dòng đầu tư quốc tế vận động dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố vốn, lao động, thị trường giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các nước phát triển và đang phát triển. Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý…từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu cho các bên tham gia [33, tr.
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin: Hiện tượng xuất khẩu tư bản (đầu tư ra nước ngoài) có nguyên nhân là vì một số nước có hiện tượng “thừa tư bản”, nhưng lại thiếu địa bàn đầu tư có lợi. Hiện tượng “thừa tư bản” được hiểu là thừa tương đối khi đầu tư trong nước có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với tỷ suất lợi nhuận đầu tư ở nước ngoài. Các nền kinh tế lạc hậu có tỷ suất lợi nhuận cao nhưng rất thiếu tư bản để đầu tư phát triển kinh tế, đổi mới kỹ thuật và công nghệ. Sự gặp nhau giữa các nước xuất khẩu và nước tiếp nhận tư bản đã hình thành đầu tư ra nước ngoài.
Nếu thương mại quốc tế là sự di chuyển kết quả của quá trình sản xuất trên quy mô quốc tế để thu lợi nhuận, thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là sự di chuyển chính điều kiện sản xuất giữa các quốc gia để thu lợi nhuận [7, tr. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với các công cụ tài chính khác. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên z lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. Theo Nghị định này, có hai dấu hiệu cơ bản nhất của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là: Có sự di chuyển tư bản trên phạm vi quốc tế; chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư [18, tr. Như vậy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hoạt động do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành nhằm thu được lợi nhuận trong kinh doanh. Từ những quan niệm trên, có thể đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam như sau:“Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài nhằm thu được lợi nhuận”.
Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Có nhiều cách phân loại về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong luận án này chỉ nghiên cứu hình thức mua lại và sáp nhập, hình thức đầu tư mới. Mua lại và sáp nhập (M&A): Là hình thức chủ đầu tư tiến hành mua lại, liên minh và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Nguyên tắc cơ bản để tiến hành sáp nhập và mua lại là phải tạo ra được giá trị cho cổ đông, giá trị của công ty sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng rẽ. Ngoài ra, những công ty mạnh mua lại công ty khác nhằm tạo ra một công ty mới có tiềm lực tài chính, sức cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, hiệu quả vận hành cao hơn [49, tr.
Quy định tại Điều 107 và Điều 108 Luật Doanh Nghiệp Việt Nam đã định nghĩa rõ về các hình thức đầu tư này: (i) Hợp nhất doanh nghiệp là “Hai hay z một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”; (ii) Sáp nhập là “Một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Đầu tư mới (GI): là hình thức chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc thành lập một doanh nghiệp mới [49, tr. Đầu tư mới có các hình thức cơ bản sau: Doanh nghiệp liên doanh: Là hình thức tổ chức kinh doanh do hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư.
Đây là hình thức được nước tiếp nhận đầu tư khuyến khích vì nhà đầu tư nước ngoài thường mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại để đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, là pháp nhân và chịu sự kiểm soát của luật pháp nước tiếp nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được các chủ đầu tư ưa thích vì họ được toàn quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh và hưởng toàn bộ số lợi nhuận do kết quả đầu tư, kinh doanh tạo ra mà không bị phụ thuộc hoặc chia sẻ với các đối tác. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức liên kết kinh doanh giữa hai hoặc nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân.
Hoạt động dựa trên văn bản ký kết z giữa các bên, khi hết thời hạn hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý, các bên tham gia vẫn là những pháp nhân riêng. Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT: Building - Operate - Transfer): Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian. Hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước sở tại mà không được bồi hoàn hoặc chỉ được bồi hoàn với một giá tượng trưng. Với hình thức BOT, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.
Một số hình thức khác của BOT là BTO hoặc BT có đặc điểm như sau: (i) Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO: Building - Transfer - Operate): BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại. Chính phủ nước sở tại sẽ cùng với nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lợi nhuận ở mức hợp lý. (ii) Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT: Building - Transfer): là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài về xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao công trình đó cho nước sở tại.
Chính phủ nước sở tại sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý. Tính tất yếu của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ các nước đang phát triển Đầu tư trực tiếp nước ra ngoài là xu hướng tất yếu khi các nền kinh tế hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vai trò của các nước phát triển đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn rất quan trọng, nhưng trong thời gian gần đây, vai trò của các nước đang phát triển đối với hoạt động này ngày càng tăng. Tính z tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển xuất phát từ những nguyên nhân sau: Thứ nhất, quy luật phân bố tài nguyên không đồng đều giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ là yếu tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để chủ động nguồn cung, bù đắp sự thiếu hụt trong nước: Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn có trữ lượng hữu hạn và phân bổ không đều ở các quốc gia trên thế giới.
Vì vậy, khi kinh tế phát triển, năng lực sản xuất tăng lên thì nhu cầu sử dụng tài nguyên, nhiên liệu cũng tăng lên tương ứng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sản xuất hàng hóa tại một quốc gia có thể cung cấp cho thị trường toàn cầu nên nhu cầu tài nguyên càng tăng lên.