Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn địa phương (cấp tỉnh). Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế tỉnh giai đoạn 2011-2015. Định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển “ kinh tế tỉnh Hà Nam đến năm 2020.
” “ ” “ ” CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN “ ” “ ” KINH TẾ TẠI ĐỊA PHƢƠNG (CẤP TỈNH) 2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động đầu tƣ phát triển kinh tế tại địa phƣơng 2. Một số khái niệm Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư tùy theo phạm vi nghiên cứu, góc độ, cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều khái niệm về đầu tư. Theo nghĩa rộng, là “ ” “ ” “ sự hy sinh chắc chắn ở được, giá trị hiện tại có thể hiểu là tiêu dùng, còn giá trị tương lai ” hiểu là năng lực sản xuất có thể làm tăng thêm sản lượng quốc gia.
Về mặt nội hàm, khái niệm đầu tư thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp hành vi, hoặc quá trình sử dụng các nguồn lực (vật chất, phi vật chất) nhằm đáp ứng mục tiêu hoặc kết quả xác định. Quá trình sử dụng nguồn lực cũng không làm mất đi giá trị mà chỉ làm thay đổi hình thái thể hiện giá trị của nguồn lực. Dưới góc độ là một môn khoa học nghiên cứu những quy luật kinh tế vận động trong lĩnh vực đầu tư thì đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực “ ” “ ” trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục “ ” tiêu xác định trong. (Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là) hoạt động sử (dụng vốn trong hiện tại) nhằm mới, mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm như tiền vốn, đất “ đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên vì vậy khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay ” “ đánh giá hiệu quả đầu tư cần phải.
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài ” “ sản vật chất (nhà xưởng, máy móc thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên ” “ môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…), các kết quả này sẽ góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Mục đích của ” “ đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao và ” “ ” “ ” (nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường)… Đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn địa phương là hoạt động sử dụng vốn trong “ hiện tại (tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên khoáng sản…) để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho địa phương, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mọi hoạt động sản xuất khác tại địa phương, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao chất lượng đời sống dân cư trên địa bàn địa phương quản lý.
địa phương bao gồm các hoạt động đảm bảo thực hiện các ” mục tiêu phát triển kinh tế như vốn, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí “ thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội. Mục đích của địa phương là vì địa phương giai ” đoạn, từng. Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương Cũng như đối với nền kinh tế, tại có một số kinh tế tại địa phương thường rất lớn. Thông thường, tại địa phương hàng, có dự án lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
VĐT lâu thường xuyên xảy ra tình trạng (nợ đọng) cao trong (đầu tư) từ nguồn vốn (nhà nước), các công trình thường bị kéo dài thời gian, tăng tổng mức đầu tư, giảm hiệu quả đầu tư, khả năng thu hồi vốn chậm. Quy mô vốn lớn trong “ ” “ ” khi đặc điểm kinh tế của địa phương nhỏ hơn nhiều so với cả nền kinh tế đòi hỏi địa phương phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng chính sách, chiến “ ” lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng VĐT, đảm bảo bố trí “ ” “ vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Ngoài ra, khi dự án thực ” hiện tại địa phương sẽ cần (sử dụng) nhiều (lao động) ngay tại (địa phương trong thực) hiện cũng như vận hành dự án (ví dụ các dự án về sản xuất xi măng, dệt may…), do đó các địa phương cần phải chú trọng đảm bảo nguồn lao động yêu cũng như cho các khi tại địa phương. Thời kỳ đầu tư kéo dài (được tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án “ ” “ hoàn thành và đưa vào hoạt động), nhiều công trình đầu tư có thời gian kéo dài hàng chục năm như các dự án (đầu tư xây dựng.
kéo dài, một số công có phát huy dụng lâu dài ” (các dự án đầu tư tại địa phương có thể kéo dài đến 50 năm hoặc 70 năm đối với các địa “ ” phương có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc ưu đãi. VĐT (lớn) trong khi trong kinh tế tại “ ” địa phương có chưa cao, khả (năng tài chính) không đáp ứng được trong thời gian dài… và khác cả vật nhanh, công suất thực tế không đạt công suất thiết kế, thị trường sản phẩm đầu ra khó khăn… Ví dụ các dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi tại địa phương trong “ những năm vừa qua được đầu tư xây dựng nhiều, trong khi dự án nhưng gây ô nhiễm ” “ ” “ ” môi trường cao nên đã bị thu hồi giấy phép nhiều gây lãng phí trong hoạt động đầu tư. Vì vậy, từ khi nghiên cứu chủ trương đầu tư đến bước cấp phép đầu tư cần phải nhận diện được hết các rủi ro tiềm ẩn, đưa ra được nguyên nhân rủi ro từ đó đánh giá mức độ rủi ro “ ” để đưa ra pháp phù hợp, phòng tránh rủi ro. “ ” “ ” tại địa phương nguồn nếu thời gian thực hiện kéo dài sẽ gây thất thoát, lãng phí lớn trong khi ngân sách hạn chế, cần ưu tiên cho nhiều hoạt động đầu tư cần thiết, điều đó đòi hỏi công tác quản lý quá trình sử dụng vốn phải được tiến hành khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm từ khâu chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định dự án.
Công tác phân “ ” “ ” “ ” bổ vốn đầu tư tại địa phương phải phân bổ hợp lý, dựa trên mức độ quan trọng đối với “ ” từng dự án, tránh tình trạng dàn trải, thiếu hiệu quả, (tập trung hoàn thành dứt điểm các hạng mục) dở dang để tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, (công tác kiểm tra giám sát thực) hiện đầu tư của địa phương cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo các dự án thực “ ” “ hiện đúng tiến độ, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư. ” Khi các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại địa phương, địa phương nhưng. Chính vì vậy, kinh tế tại địa phương cần quán triệt một số nội dung sau: Chủ trương đầu tư và quyết định “ đầu tư cần phải được nghiên cứu cẩn thận, dựa trên những căn cứ khoa học; Lựa chọn ” “ ” “ địa điểm hợp lý, lựa chọn địa điểm phải dựa vào các căn cứ khoa học, hệ thống các chỉ ” “ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa… sao cho việc lựa chọn địa điểm tại địa phương ” hợp lý nhất, khai thác tối đa lợi thế địa phương và không gian đầu tư cụ thể, tạo điều kiện “ ” “ nâng cao hiệu quả đầu tư.
Vai trò của đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương 2. Góp phần (tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương) Cũng như hoạt động đối với kinh tế tại địa phương tại địa phương thông qua việc tăng quy mô VĐT và nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT là những nhân tố rất quan trọng “ ” “ ” “ góp phần nâng cao, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng ” “ ” “ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của địa phương. do đó nâng ” “ cao chất lượng tăng trưởng kinh tế địa phương. Đầu tiên, nền kinh tế tại địa phương ” “ ” chính là sự tập hợp khác nhau trên địa bàn địa phương.
Chính nhờ hoạt động đổi mới khoa học công nghệ, đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị,… góp phần duy trì đó đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển chung của. Ngoài ra, tại địa phương nếu so “ ” “ ” sánh các ngành, địa phương cấp cơ sở cũng thúc đẩy. Từ đó chung của địa phương. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế cũng tác động lại đối với, góp phần tăng quy mô vốn đầu tư tại địa phương.
Như vậy, (đầu tư với tăng trưởng kinh tế) có (mối) liên hệ nhân quả, tác động qua lại, đầu tư tăng lên thì cũng tăng. là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng “ thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng tăng thêm. Hệ số ICOR của địa phương cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều ” “ ” “ yêu tố, trong đó có một số yếu tố như: thay đổi cơ cấu đầu tư ngành; thay chế, chính sách ” và phương pháp đầu tư. Góp phần (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) địa phương theo định hướng nhất định trong từng thời kỳ phát triển tại địa phương.
Cơ cấu kinh tế chủ yếu được nghiên cứu tại địa phương là (cơ cấu kinh tế) phân theo ngành, (bao gồm các ngành); nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ngoài ra tại địa phương có thể phân theo địa bàn các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.